Trung tâm xúc tiến đầu tư
Thương mại & du lịch quốc tế

Cần gói tín dụng dài hơi với quy mô lớn hơn

Invest Global 14:37 31/07/2020

Giới chuyên môn cho rằng, bên cạnh sớm tháo gỡ những điểm nghẽn liên quan đến các gói hỗ trợ đang triển khai cần thêm những xung lực mới cho nền kinh tế.

Tác động của dịch Covid-19 ngày càng lớn

Đại dịch Covid-19 diễn biến ngày càng phức tạp trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 đối với kinh tế - xã hội Việt Nam đã rất rõ nét, nghiêm trọng hơn rất nhiều so với các dự báo trước đây.

Nếu như tại báo cáo cập nhật đánh giá tác động của dịch Covid-19 tới kinh tế Việt Nam tháng 4/2020 của Viện Đào tạo & Nghiên cứu BIDV dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam theo 3 kịch bản cơ sở, tích cực và tiêu cực lần lượt ở các mức: 4,81%, 5,4% và 4,07%. Thì đến nay, dựa trên các thông tin số liệu về kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2020, Nhóm nghiên cứu thực hiện báo cáo đã đưa ra 3 kịch bản tăng trưởng với con số khá khiêm tốn, chỉ từ 1,5% đến 3% (kịch bản cơ sở) và có thể đạt khoảng 4% (kịch bản tích cực nhất). “Nhìn chung tác động của đại dịch đến các ngành kinh tế đã diễn ra theo kịch bản cơ sở khi đa số các ngành gặp nhiều khó khăn hơn trong quý II, trong khi một số ngành đã bước đầu hồi phục nhưng kết quả chưa thực sự khả quan”, nhóm nghiên cứu nhận định. 

Theo các chuyên gia, nên có gói hỗ trợ kích thích kinh tế mới càng sớm càng tốt

Bày tỏ lo lắng về triển vọng kinh tế những tháng còn lại của năm 2020, PGS.TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo - Trưởng khoa Tài chính - Trường Đại học kinh tế TP. Hồ Chí Minh chỉ ra 3 yếu tố mang tính bất định khiến cho kinh tế Việt Nam đối mặt với nhiều khó khăn trong thời gian tới. Yếu tố bất định thứ nhất đó là sự sụt giảm tổng cầu của thế giới nói chung cũng như nhu cầu của các quốc gia đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam. Hiện tại, nền kinh tế các nước vẫn còn cách ly để chống dịch, đường biên vẫn chưa mở cửa, do vậy giao thương quốc tế rất khó khăn và dẫn tới đầu ra hàng hoá bị tắc nghẽn.

Yếu tố bất định thứ hai đó là tiêu dùng nội địa. Mặc dù tiêu dùng nội địa có tiến triển khả quan hơn xuất khẩu, nhưng cũng đang gặp rất nhiều khó khăn. Do thu nhập bị giảm xuống và tâm trạng bi quan với triển vọng kinh tế, người tiêu dùng đang có xu hướng phòng thủ trong chi tiêu.

Yếu tố cuối cùng đó là xuất khẩu. Tuy Việt Nam đã có những chính sách kích thích xuất khẩu rất đúng hướng, nhưng vấn đề là thị trường các nước vẫn chưa mở cửa và hấp thụ được lượng hàng hoá mà DN nước ta mong muốn xuất đi.

Chính sách mang tinh thần thời chiến

Trong bối cảnh dịch bệnh kéo dài, tác động rộng khắp như vậy, nền kinh tế không dễ phục hồi trong một sớm một chiều, giới chuyên môn cho rằng, bên cạnh sớm tháo gỡ những điểm nghẽn liên quan đến các gói hỗ trợ đang triển khai cần thêm những xung lực mới cho nền kinh tế.

Xung lực mới, theo TS. Võ Trí Thành - thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, là nên có gói hỗ trợ kích thích kinh tế mới càng sớm càng tốt và áp dụng ít nhất đến hết năm 2021. Gói hỗ trợ này không chỉ liên quan đến hỗ trợ phục hồi trong ngắn hạn mà phải đáp ứng xu hướng mới, nên sẽ chú trọng các yếu tố liên quan đến sáng tạo, đổi mới, kỹ năng… gắn với những lĩnh vực mới, xu hướng sản xuất kinh doanh. “Chưa biết quy mô chính sách này có lớn hay không, điều quan trọng nhất là phải triển khai theo tinh thần thời chiến, nhanh, quyết liệt, trách nhiệm, tăng quyền cho người đứng đầu thay vì theo cách truyền thống như hiện nay. Tất nhiên song song với đó phải có sự giám sát chặt chẽ”, TS. Thành nhấn mạnh. 

Đánh giá các chính sách hỗ trợ tài khóa của Nhà nước là rất trúng và đúng, nhưng theo TS. Bùi Đức Thụ - thành viên hội đồng tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, hiệu quả các gói hỗ trợ còn thấp, mới đạt được 30%. Do đó, cần phải rà soát nhanh các cơ chế hiện hành để đơn giản hóa thủ tục, tăng giải ngân các gói hỗ trợ để giảm bớt khó khăn cho người dân, DN đang phải đối mặt. Đặc biệt, trên cơ sở thực tiễn, Chính phủ cần cân nhắc thêm gói hỗ trợ dài hạn hơn, ở quy mô lớn hơn; Chính phủ sớm chỉ đạo các bộ ngành tổng hợp các khó khăn mà DN kiến nghị trong thời gian qua để nhận diện một cách đầy đủ rộng khắp. “Trên cơ sở kiến nghị về cơ chế chính sách đó chúng ta sàng lọc lại, nhận diện chính sách cần hỗ trợ vào đâu, quy mô rộng thế nào, nguồn lực lấy từ đâu, chính sách nào triển khai... Thời điểm này, theo tôi, chính sách thực hiện chủ yếu là chính sách tài khóa, nhưng có thể liên quan đến các chính sách khác. Do đó, chúng ta sẵn sàng chủ động tập trung mọi nguồn lực của đất nước để hình thành hệ thống chính sách hỗ trợ đồng bộ, tháo gỡ khó khăn cho DN, cho nền kinh tế một cách hiệu quả nhất”, TS. Bùi Đức Thụ nêu quan điểm. 

Có quan điểm tương đồng, TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV đề xuất, cần có cơ chế, phân quyền đặc thù cho Thủ tướng Chính phủ và Chính phủ để có thể ra quyết định nhanh chóng, kịp thời các chính sách hỗ trợ nền kinh tế. Vấn đề quan trọng nhất thời điểm này là cần tập trung đẩy nhanh tiến độ và triển khai hiệu quả các gói hỗ trợ người dân và DN. Một trong số đó là gói 16.000 tỷ đồng cho vay lãi suất 0%, cần khẩn trương tháo gỡ những vướng mắc về điều kiện, thủ tục. Bên cạnh đó, cần xem xét cho phép gia hạn thời gian giãn, hoãn thuế, tiền thuê đất trước mắt là hết năm 2020 để DN đỡ khó khăn về thanh toán chi phí rất cần thiết.

Một chính sách quan trọng nữa, theo TS. Cấn Văn Lực, đó là cần sớm sửa đổi Thông tư 01 của NHNN theo hướng gia hạn thời gian giãn, hoãn nợ đến hết năm 2020 và mở rộng đối tượng được hỗ trợ hết ngày 10/6/2020 thay vì 23/1/2020 như hiện nay. Qua đó ngân hàng có cơ sở để hỗ trợ được nhiều hơn cho khách hàng... Theo tính toán của TS. Cấn Văn Lực, tổng giá trị các gói hỗ trợ của Việt Nam có thể lên đến 4-5% GDP.

Theo giới chuyên môn cần phải sớm thực hiện gói hỗ trợ mới có thể triển khai ngay trong tháng 9 tới. Còn về thời gian gói hỗ trợ, TS. Bùi Đức Thụ cho rằng phụ thuộc vào diễn biến kiểm soát dịch bệnh, khả năng phục hồi sức khỏe của DN, nền kinh tế có thể là một năm hoặc vài ba năm. Quan trọng là liều lượng, cách thức hỗ trợ phù hợp, cơ chế chính sách xác định rõ để thực hiện, nhưng đảm bảo tính khả thi, tránh tình trạng như thời gian qua hỗ trợ đối tượng trúng, đúng, kịp thời nhưng thực hiện lại không được vì cơ chế quá lằng nhằng.