"Thời điểm vàng" cho ngành cơ khí nội địa
Tại Hội thảo “Công nghiệp vật liệu và Công nghiệp cơ khí, chế tạo Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới” do Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội tổ chức, ông Phan Đăng Phong, Viện trưởng Viện Nghiên cứu cơ khí (NARIME), Bộ Công Thương đã có bài tham luận về chủ đề “Cần Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù phát triển các sản phẩm cơ khí trọng điểm giai đoạn 2026-2045”.
Nhìn lại chặng đường vừa qua, ngành cơ khí Việt Nam đã có những bước tiến dài về mặt quy mô. Dẫn số liệu từ Cục Thống kê và Bộ Công Thương, Viện trưởng Phan Đăng Phong cho biết, chỉ trong vòng 7 năm, quy mô sản xuất toàn ngành đã tăng gần gấp đôi, từ mức 61,8 tỷ USD năm 2018 lên khoảng 122,6 tỷ USD vào năm 2025. Đi kèm với đó là sự bứt phá của xuất khẩu máy móc, thiết bị và phụ tùng, tăng mạnh từ 14,6 tỷ USD lên 59,2 tỷ USD, giúp nhập siêu giảm sâu từ 15,2 tỷ USD xuống chỉ còn khoảng 2 tỷ USD.
Hiện nay, "xương sống" của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo này đang dựa trên mạng lưới hơn 43.600 cơ sở, tạo công ăn việc làm cho hơn 1,57 triệu lao động. Những con số này cho thấy ngành cơ khí Việt Nam đã mở rộng nhanh chóng và hội nhập sâu vào thương mại quốc tế.
Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên chủ trì Hội thảo “Công nghiệp vật liệu và Công nghiệp cơ khí, chế tạo Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới”.
Tuy nhiên, đằng sau những gam màu sáng là một thực tế đầy trăn trở: nền tảng phát triển của ngành cơ khí Việt Nam vẫn chưa thực sự vững chắc do khu vực FDI vẫn chi phối khoảng 92-93% giá trị xuất khẩu và khoảng 75% giá trị nhập khẩu trong những năm gần đây. Doanh nghiệp nội địa, dù chiếm số lượng lớn nhưng vẫn đang loay hoay ở vùng thấp của chuỗi giá trị. Tỷ lệ nội địa hóa trong các dây chuyền thiết bị đồng bộ hiện vẫn duy trì ở mức thấp dưới 20%, chủ yếu tập trung vào các khâu đơn giản như kết cấu thép, chế tạo chi tiết đơn lẻ hoặc xây lắp.
Cũng theo Viện trưởng Phan Đăng Phong, Quyết định số 319/QĐ-TTg về Chiến lược phát triển cơ khí Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035 đặt mục tiêu nâng cao năng lực tự chủ, đáp ứng khoảng 45% nhu cầu thị trường nội địa vào năm 2035; đồng thời hình thành các tập đoàn cơ khí mạnh, các tổ hợp tư vấn - chế tạo đủ năng lực đảm nhận vai trò tổng thầu EPC trong các dự án quy mô lớn về năng lượng, công nghiệp và hạ tầng.
Nhưng đến thời điểm hiện tại, kết quả thực hiện mới đạt mức trung bình khá. Nguyên nhân là do Việt Nam vẫn chưa hình thành được các tập đoàn cơ khí mạnh hay các tổ hợp tư vấn - chế tạo đủ tầm đảm nhận vai trò Tổng thầu EPC cho các dự án lớn. Ngoài ra, năng lực thiết kế tổng thể và tích hợp hệ thống - "trái tim" tạo ra giá trị gia tăng cao nhất vẫn còn yếu.
Hiện nay, ngay cả với những doanh nghiệp đầu đàn như THACO, LILAMA hay NARIME, vai trò dẫn dắt và làm chủ hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ vẫn chưa đạt kỳ vọng. Khi đối tác nước ngoài nắm giữ công nghệ lõi, thiết kế và phần mềm điều khiển, doanh nghiệp Việt Nam mặc nhiên bị đẩy vào vị trí "người làm thuê" cho các khâu gia công.
Viện trưởng Viện Nghiên cứu cơ khí Phan Đăng Phong tham luận về chủ đề “Cần Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù phát triển các sản phẩm cơ khí trọng điểm giai đoạn 2026-2045”.
Viện trưởng NARIME chỉ ra một nguyên nhân mang tính quyết định: Việt Nam đang rơi vào vòng luẩn quẩn: "Năng lực yếu vì thiếu cơ hội, thiếu cơ hội vì năng lực yếu". Thiếu những "đơn hàng lớn" từ các dự án trọng điểm quốc gia, doanh nghiệp nội không có môi trường để thử thách, tích lũy kinh nghiệm và tái đầu tư cho R&D. Thêm vào đó, việc chưa tự chủ được các vật liệu nền tảng như thép tấm chất lượng cao, thép hợp kim khiến chuỗi cung ứng luôn ở trạng thái bị động và dễ tổn thương trước biến động địa chính trị toàn cầu.
Theo kịch bản tăng trưởng bình quân khoảng 10%/năm và lấy năm 2025 làm năm cơ sở, thì giai đoạn 2026-2045 được dự báo sẽ là "thời điểm vàng" với dung lượng thị trường cơ khí nội địa ước đạt con số khổng lồ là 7.821 tỷ USD. Đây không chỉ là những con số trên giấy mà là nhu cầu thực tế từ các đại dự án hạ tầng và năng lượng. Trong đó, thị trường trọng điểm ô tô khoảng 721 tỷ USD, điện gió ngoài khơi khoảng 183,6 tỷ USD; ba lĩnh vực đường sắt đô thị, đường sắt liên vùng và đường sắt tốc độ cao khoảng 161,4 tỷ USD; khai thác và chế biến khoáng sản khoảng 42 tỷ USD; điện khí/LNG khoảng 42 tỷ USD; điện hạt nhân khoảng 113,2 tỷ USD, sản xuất kim loại đúc sẵn 216 tỷ USD.
Dung lượng này đủ lớn để tạo ra một cuộc chuyển mình lịch sử cho ngành cơ khí, chế tạo. Tuy nhiên, theo Viện trưởng Phan Đăng Phong, nếu không có cơ chế thực hiện rõ ràng, phần lớn giá trị này sẽ tiếp tục chảy về các nhà đầu tư nước ngoài. Đơn cử như trong lĩnh vực điện gió ngoài khơi, doanh nghiệp Việt hiện có thể làm tốt chân đế và trạm biến áp, nhưng các khâu then chốt như tuabin, tích hợp hệ thống và quản trị vận hành vẫn đang hoàn toàn phụ thuộc vào nước ngoài.
Cần nghị quyết đặc thù mở đường cho phát triển cơ khí
Để phá vỡ vòng luẩn quẩn và chiếm lĩnh thị trường nội địa, Viện trưởng Viện Nghiên cứu cơ khí cho rằng, việc ban hành một Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù phát triển sản phẩm cơ khí trọng điểm giai đoạn 2026-2045 là yêu cầu cấp thiết. Mục tiêu là phá vỡ vòng luẩn quẩn “năng lực yếu vì thiếu cơ hội, thiếu cơ hội vì năng lực yếu”; biến các dự án lớn của quốc gia thành đơn hàng thực tế cho doanh nghiệp trong nước; tạo động lực đầu tư vào thiết kế, tích hợp hệ thống, thử nghiệm, chứng nhận và quản trị dự án.
"Cơ chế này không nên dàn trải mà cần tập trung vào các “mũi nhọn” có sức lan tỏa cao như đường sắt, điện gió ngoài khơi, đóng tàu và công nghiệp chế biến nhôm", Viện trưởng Phan Đăng Phong đề xuất. Nhấn mạnh những nội dung đột phá cần được xem xét trong Nghị quyết, Viện trưởng Phan Đăng Phong chỉ rõ:
Một là, tạo thị trường bằng "đơn hàng quốc gia": Các dự án trọng điểm cần được xem là môi trường thử thách. Trong giai đoạn 2026-2035, nên lựa chọn ít nhất 3 dự án đầu tiên trong mỗi lĩnh vực ưu tiên để giao nhiệm vụ hoặc chỉ định thầu có điều kiện cho các liên danh nhà thầu trong nước. Mục tiêu là sau khi kết thúc dự án, doanh nghiệp Việt phải tự chủ được khâu thiết kế và quản lý dự án.
Hai là, hỗ trợ có điều kiện và trọng tâm: Các ưu đãi về tài chính, R&D, thử nghiệm phải gắn liền với kết quả đầu ra và tiêu chí nội địa hóa cụ thể,.
Ba là, tự chủ vật liệu nền tảng: Ưu tiên đầu tư sản xuất thép tấm, thép chuyên dùng cho đường sắt, đóng tàu và năng lượng để xây dựng chuỗi cung ứng tự cường.
Bốn là, hàng rào kỹ thuật hợp pháp: Thiết lập các tiêu chuẩn kỹ thuật phù hợp với cam kết quốc tế để bảo vệ thị trường nội địa trước sự xâm nhập của hàng hóa kém chất lượng.
Viện trưởng Phan Đăng Phong cho rằng, mục tiêu của nghị quyết là phá vỡ vòng luẩn quẩn “năng lực yếu vì thiếu cơ hội, thiếu cơ hội vì năng lực yếu”.
Viện trưởng Phan Đăng Phong nhấn mạnh, giai đoạn 2026-2045 mở ra cơ hội đặc biệt để cơ khí Việt Nam bứt phá nhờ hàng loạt dự án quy mô lớn trong các lĩnh vực đường sắt, năng lượng, khai khoáng, đóng tàu, công nghiệp chế biến chế tạo, nông nghiệp và logistics.
Tuy nhiên, cơ hội chỉ chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh quốc gia khi doanh nghiệp trong nước được tham gia vào các khâu có giá trị gia tăng cao như thiết kế, tích hợp hệ thống, chế tạo thiết bị và quản lý dự án. Vì vậy, việc ban hành Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù phát triển các sản phẩm cơ khí trọng điểm giai đoạn 2026-2045 là cần thiết nhằm tạo đột phá về năng lực công nghệ, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và hình thành các doanh nghiệp cơ khí đủ sức cạnh tranh ở quy mô khu vực và quốc tế.
Quy mô sản xuất ngành cơ khí tăng từ khoảng 61,8 tỷ USD năm 2018 lên khoảng 122,6 tỷ USD năm 2025, tương đương gần gấp đôi; trong đó, xuất khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng tăng từ 14,6 tỷ USD lên 59,2 tỷ USD; nhập siêu giảm từ 15,2 tỷ USD xuống còn khoảng 2,0 tỷ USD. Kết quả này cho thấy cơ khí Việt Nam đã mở rộng nhanh cả về sản xuất và thương mại quốc tế.
















