CỔNG THÔNG TIN VÀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
Số liệu thống kê cho thấy, sau COVID - 19, xuất khẩu của Việt Nam đã lấy lại đà tăng trưởng và có sự bứt phá ngoại mục. Nếu như năm 2020, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam là 281,5 tỷ USD thì con số này năm 2025 là 475 tỷ USD, tăng khoảng 17% so với năm 2024 và tăng gần 69% so với 5 năm trước.
Trong kim ngạch xuất khẩu năm 2025, khu vực FDI đạt khoảng 367,1 tỷ USD, chiếm tới 77,3% tổng kim ngạch, còn khu vực DN trong nước khoảng 108 tỷ USD, tương đương 22,7%.
Số liệu cập nhật 4 tháng đầu năm 2026 cho thấy, kim ngạch xuất khẩu đạt 168,53 tỷ USD, tăng 19,7%. Cơ cấu xuất khẩu tiếp tục nghiêng mạnh về khu vực FDI khi khu vực này chiếm tới 80% tổng kim ngạch, tương đương 134,88 tỷ USD, tăng 25,8%. Ngược lại, khu vực kinh tế trong nước chỉ đạt 33,65 tỷ USD, tăng vỏn vẹn 0,4%.
Báo cáo của Cục Thống kê cũng cho biết, trong 4 tháng đầu năm, có 24 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 89,1% tổng kim ngạch xuất khẩu. Trong đó có 7 mặt hàng xuất khẩu trên 5 tỷ USD, chiếm 69,1%. Đó là: Điện tử, máy tính và linh kiện; Điện thoại các loại và linh kiện; Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác; Hàng dệt, may’; Giày dép; Phương tiện vận tải và phụ tùng; Gỗ và sản phẩm gỗ.
Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu 4 tháng đầu năm 2026, nhóm hàng công nghiệp chế biến ước đạt 151,5 tỷ USD, chiếm 89,9%; nhóm hàng nông sản, lâm sản ước đạt 12,68 tỷ USD, chiếm 7,5%; nhóm hàng thủy sản ước đạt 3,55 tỷ USD, chiếm 2,1%; nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản ước đạt 0,8 tỷ USD, chiếm 0,5%.
Nhìn vào cơ cấu xuất khẩu khi các ngành hàng xuất khẩu chủ lực như: Điện tử, máy tính và linh kiện; Điện thoại các loại và linh kiện; Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác..., đều chủ yếu do các DN FDI nắm giữ phần nào cho thấy lời giải cho vị trí áp đảo trong xuất khẩu của khu vực FDI.
Điện tử, máy tính, điện thoại là các mặt hàng làm nên kim ngạch xuất khẩu "khủng" của khu vực FDI. Ảnh: ITNDoanh nghiệp nội với "sân chơi" nông, lâm, thủy sản
Nếu như "sân chơi" của các DN FDI thuộc về các ngành hàng công nghiệp, công nghệ cao thì các DN nội đang có thế mạnh ở lĩnh vực nông, lâm, thủy sản, tiêu biểu như: Gạo; Cà phê; Rau quả,; Hạt điều, hồ tiêu; Thủy sản chế biến; Gỗ và sản phẩm gỗ...
Năm 2025, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản Việt Nam đạt mức kỷ lục 70,09 tỷ USD, tăng 12% so với năm 2024 và vượt xa mục tiêu 65 tỷ USD Chính phủ đề ra. Đây là mức cao nhất từ trước đến nay, khẳng định vị thế bền vững của ngành nông nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Theo số liệu cập nhật 4 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam đạt khoảng 23,04 tỷ USD, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm 2025. Đáng chú ý, trong bối cảnh nền kinh tế trong nước nhập siêu lên tới 7,11 tỷ USD thì nông, lâm, thủy sản xuất siêu 5,4 tỷ USD.
Tuy DN nội chiếm vị thế áp đảo trong xuất khẩu nông, lâm, thủy sản nhưng kim ngạch xuất khẩu những mặt hàng này chỉ chiếm con số lẻ trong tổng kim ngạch xuất khẩu chung của nền kinh tế (70,09 tỷ USD/475 tỷ USD - số liệu năm 2025). Điều này lý giả vì sao tỷ trọng xuất khẩu của DN nội vẫn chỉ giữ vị trí khiêm tốn.
Thế mạnh xuất khẩu của DN nội tiu nhiên kim ngạch xuất khẩu chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu chung. Ảnh VNE
Đáng chú ý, ngay trong lĩnh vực tưởng như thế mạnh của DN nội thì DN FDI vẫn có vị trí lấn át. Đơn cử như xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ.
Số liệu cập nhật đến năm 2024 cho thấy, trong tổng số hơn 4.200 DN trực tiếp xuất khẩu, số lượng DN FDI khoảng 669 DN, chiếm khoảng 20% tổng số DN, nhưng nắm giữ gần một nửa kim ngạch xuất khẩu (khoảng 46- 48%)
Năm 2025, là một cột mốc lịch sử khi ngành gỗ Việt Nam lần đầu tiên vượt ngưỡng 17 tỷ USD về kim ngạch xuất khẩu. Dù đối mặt với nhiều biến động về thuế quan từ thị trường Mỹ, ngành vẫn duy trì vị thế trong nhóm 5 quốc gia xuất khẩu gỗ lớn nhất thế giới. Đứng thứ 2 thế giới về xuất khẩu đồ nội thất.
Tuy nhiên, khối DN FDI tiếp tục đóng vai trò quan trọng khi chiếm khoảng 47,3% - 48,3% trong tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành. DN FDI vẫn dẫn đầu ở các nhóm hàng có giá trị gia tăng cao như ghế ngồi và đồ nội thất văn phòng. Trong khi đó, DN trong nước chiếm khoảng 52% kim ngạch, tập trung mạnh vào các mặt hàng dăm gỗ và viên nén gỗ.
Chia sẻ với Nhadautu.vn về nghịch lý "chỉ chiếm 20% về số DN nhưng chiếm đến gần 50% về giá trị xuất khẩu", TS. Tô Xuân Phúc, chuyên gia Forest Trend nhận định: Điều này cho thấy quy mô, trình độ quản lý và tiếp cận thị trường xuất khẩu của các DN FDI tốt hơn các DN Việt.
"Trừ một số DN có quy mô lớn, hạn chế của các DN nội hiện nay là quy mô thường nhỏ hơn nhiều so với DN FDI. Đặc biệt, đầu ra thị trường chủ yếu vẫn còn phụ thuộc vào người mua hàng, là các DN nhập khẩu nước ngoài. Hầu như chưa có DN Việt nào có hệ thống phần phối ở nước ngoài, mà hoàn toàn phụ thuộc vào các DN nước ngoài. Ngược lại, nhiều DN FDI có sẵn các hệ thống này tại thị trường tiêu thụ. DN FDI cũng thường tập trung vào các nhóm sản phẩm có giá trị gia tăng và hàm lượng công nghệ cao, mức độ tự động hóa lớn", chuyên gia phân tích thêm.
Cũng như xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ, dệt may và da giày vẫn được xem là thế mạnh của DN Việt Nam mặc dù giá trị gia tăng thấp. Song trong lĩnh vực này, các DN FDI vẫn giữ tỷ trọng áp đảo.
Đơn cử ngành Giày dép và Túi xách, tỷ lệ nắm giữ của FDI đang chiếm khoảng 75% - 80% tổng kim ngạch xuất khẩu.. Các tập đoàn FDI lớn từ Đài Loan, Hàn Quốc sản xuất gia công cho các thương hiệu toàn cầu (Nike, Adidas) nắm giữ các đơn hàng quy mô lớn. Trong khi DN nội chủ yếu làm gia công lại (sub-contract) hoặc sản xuất quy mô nhỏ.
Hay ngành Dệt may, tỷ lệ nắm giữ của FDI cũng khoảng 60% - 63% tổng kim ngạch xuất khẩu. Khối DN nội có số lượng đông đảo hơn nhưng khối FDI lại vượt trội về năng lực sản xuất sợi, dệt nhuộm và hoàn thiện vải. Do đó, DN FDI tối ưu được quy trình và giành được các đơn hàng lớn xuất khẩu đi Mỹ, EU.
Liên kết để lớn mạnhKhông thể phủ nhận vai trò quan trọng của khu vực FDI trong nên kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, đã rất nhiều ý kiến về việc nền kinh tế đang phụ thuộc vào khu vực FDI. Thực tế sự phụ thuộc này không những giảm mà đang có xu hướng tăng lên.
Luật sư Bùi Văn Thảnh (trái) và TS. Tô Xuân Phúc (phải) trao đổi với Nhadautu.vn. Ảnh NVCC
Trao đổi với Nhadautu.vn, Luật sư Bùi Văn Thành, Trưởng văn phòng Luật sư Mặt trời mới thẳng thắn chỉ ra một thực tế là hầu hết dự án FDI tìm đến Việt Nam chủ yếu để tận dụng chi phí rẻ nhằm tìm kiếm lợi nhuận ngắn hạn, thay vì kiến tạo những giá trị thặng dư bền vững.
"Thực trạng hiện nay cho thấy một nghịch lý: FDI tăng trưởng mạnh, kim ngạch xuất khẩu lớn, nhưng hàm lượng giá trị gia tăng nội địa cấu thành trong xuất khẩu lại rất hạn chế", Luật sư thẳng thắn.
Nguyên nhân được chỉ ra là do mô hình thu hút FDI của Việt Nam trong giai đoạn trước chủ yếu là tiếp cận đất đai giá rẻ, chi phí nhân công và các chi phí sản xuất, tiếp cận thị trường thấp mà chưa có sự ràng buộc nhiều về liên kết, chuyến giao công nghệ; Bản thân Việt Nam chưa xây dựng được một hệ thống các nhà cung cấp (vendor) nội địa đáng tin cậy và đủ năng lực.
"Từ thực tế đó đỏi hỏi chúng ta phải đổi mới mô hình thu hút FDI, điều hướng dòng vốn dựa trên tiêu trí 'hợp tác cùng có lợi'…", Luật sư Bùi Văn Thành đề xuất.
Theo nhìn nhận của các chuyên gia, mặc dù số DN nội tham gia xuất khẩu nhiều khả năng tăng lên đáng kể sau COVID -19, nhưng tỷ trọng xuất khẩu của khu vực nội lại giảm, điều đó hàm ý rằng vấn đề không nằm ở việc DN nội có tham gia hay không; mà là quy mô bình quân, năng suất và vị thế chuỗi giá trị của DN nội tăng chậm hơn FDI.
Để giải bài toàn đó, chuyên gia Forest Trend -TS Tô Xuân Phúc cho rằng đã đến lúc các DN nội cần liên kết lại với nhau để có thể trao đổi, học hỏi kinh nghiệm và phát triển quy mô, chủ động phát triển kênh bán hàng ở nước ngoài, chủ động trong thiết kế, mẫu mã sản phẩm, đầu tư vào R & D, đồng thời có tiếp cận tốt với nguồn vốn vay của Chính phủ.
Ngoài ra, xanh hóa chuỗi cung cũng là yêu cầu tất yếu khi DN muốn tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu. "Tóm lại DN nội cần phải liên kết, chủ động và đầu tư, nhìn vào chiến lược dài hạn thay vì lo các đơn hàng nhỏ lẻ như hiện hay", chuyên gia đưa ra lời khuyên.



















