CỔNG THÔNG TIN VÀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
Chiến sự leo thang tại Trung Đông đang kìm hãm tốc độ sản xuất, xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước, khi chi phí logistics tăng mạnh, chuỗi cung ứng gián đoạn, tạo sức ép lên mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu của nhiều ngành chủ lực.
Các doanh nghiệp ngành dệt may - top 4 ngành hàng xuất khẩu lớn của Việt Nam (sau máy tính; điện thoại; máy móc, thiết bị, phụ tùng) - đang căng mình vượt “chướng ngại vật”. Xung đột tại Trung Đông đã làm gián đoạn tuyến đường qua eo biển Hormuz và kênh Suez - con đường chính để đưa hàng hóa sang châu Âu.
Các doanh nghiệp ngành dệt may đang căng mình vượt chướng ngại vật. Ảnh: Đức Thanh
Ông Lê Tiến Trường - Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Dệt May Việt Nam (Vinatex) chia sẻ: "Lo lắng lớn nhất lúc này chính là thời gian giao hàng dài hơn, chi phí bảo hiểm hàng hóa tăng mạnh".
Chưa dừng lại đó, với những ngành tiêu dùng như dệt may, khi chiến sự xảy ra, điều khiến doanh nghiệp xuất khẩu “đau đầu” là sự thay đổi hành vi của người tiêu dùng, đặc biệt tại hai thị trường lớn là Mỹ và châu Âu.
“Thách thức giữ đà tăng trưởng trở nên mong manh khi tăng trưởng kinh tế toàn cầu tiếp tục ở mức thấp, nhu cầu tiêu dùng dệt may phục hồi chậm, trong khi rủi ro về chính sách thương mại, thuế quan, chi phí năng lượng và logistics gia tăng đang tạo áp lực lớn đối với ngành” - ông Trường thừa nhận.
Xu hướng bảo hộ thương mại và nguy cơ xung đột thương mại gia tăng, nhu cầu tiêu dùng hàng dệt may toàn cầu có thể suy giảm, ảnh hưởng trực tiếp tới xuất khẩu của Việt Nam. Nhiều doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong dự báo đơn hàng dài hạn.
Năm 2025, xuất khẩu dệt may mang về 46,3 tỷ USD, tăng 6% so với năm 2024. Bước sang năm 2026, ngành đặt mục tiêu xuất khẩu 50 tỷ USD, nhưng kết quả từ đầu năm chưa mấy khởi sắc, thì khó khăn lại ập đến.
Bà Hoàng Thùy Oanh - Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty cổ phần Dệt may Hòa Thọ (Đà Nẵng)
Theo thống kê của Cục Hải quan (Bộ Tài chính), trị giá xuất khẩu hàng dệt may từ đầu năm đến ngày 15/3/2026 đạt 7,07 tỷ USD, tức chỉ tăng 100 triệu USD so với cùng kỳ năm trước.
Xung đột tại Trung Đông cũng gây khó cho xuất khẩu thủy sản - ngành đóng góp 11,3 tỷ USD trong năm 2025, trong đó, Mỹ là thị trường lớn nhất. Tuy nhiên, tiêu dùng tại thị trường Mỹ đang có xu hướng giảm.
“Chi phí sinh hoạt tăng, người tiêu dùng Mỹ có xu hướng chuyển sang các sản phẩm giá phải chăng hơn như cá ngừ đóng hộp, surimi, cá tra và cá thịt trắng, giảm nhập tôm vì đắt đỏ” - Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (Vasep) thông tin.
Ngoài thủy sản, dệt may, các doanh nghiệp ngành nhựa cũng đang chịu áp lực rất lớn từ biến động giá nguyên liệu đầu vào, chi phí logistics và nghĩa vụ tín dụng. Do phụ thuộc đáng kể vào nguồn cung hạt nhựa HDPE từ Trung Đông, nhiều doanh nghiệp gần như bị động hoàn toàn trong kế hoạch sản xuất và tài chính.
Các ngành hàng lớn gặp khó trong sản xuất và duy trì xuất khẩu lập tức tác động tới trụ cột tăng trưởng quan trọng của cả nước. Ông Nguyễn Anh Sơn - Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương) thẳng thắn nhìn nhận: “Mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu 2 con số trong năm nay rất thách thức”.
Theo tính toán, để đạt mục tiêu tại Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026, kim ngạch xuất khẩu cả năm phải đạt 546 - 550 tỷ USD, tương đương bình quân 45 - 46 tỷ USD/tháng. Dù mới hết quý I và vẫn còn dư địa tăng tốc, song đà tăng trưởng đang bị ảnh hưởng đáng kể bởi các yếu tố bất lợi.
Để giảm bớt rủi ro, doanh nghiệp xuất khẩu đang tăng cường sản xuất, tính toán lại giá đơn hàng, đàm phán với đối tác nhằm hạn chế rủi ro và duy trì hoạt động ổn định.
Kiến nghị giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp
Đồ họa: Phương Anh
Sau hơn 1 tháng xảy ra chiến sự tại Trung Đông, những tác động không mong muốn tới hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam ngày càng rõ nét và đa chiều.
Kết quả cuộc khảo sát nhanh đối với 228 doanh nghiệp do Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV) phối hợp với Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể (Bộ Tài chính) thực hiện từ ngày 16/3 - 22/3/2026 cho thấy, có tới 62,7% doanh nghiệp đánh giá mức độ ảnh hưởng ở mức “lớn” hoặc “rất lớn” đến hoạt động kinh doanh hiện tại. Đáng chú ý, 55,3% doanh nghiệp xác nhận những tác động tiêu cực này đã xảy ra trên thực tế.
Trong các kênh tác động, chi phí đầu vào nổi lên là áp lực lớn nhất và trực diện nhất đối với doanh nghiệp. Nguyên nhân chủ yếu đến từ giá năng lượng, nguyên vật liệu, chi phí logistics và chi phí tài chính - những yếu tố chịu ảnh hưởng trực tiếp từ biến động địa chính trị.
Khảo sát của Ban IV ghi nhận một tỷ lệ lớn với 87,7% doanh nghiệp đang phải “gồng mình” với chi phí đầu vào gia tăng, trong đó 50,4% khẳng định mức tăng là “rất mạnh”.
Cụ thể hơn, phần lớn các doanh nghiệp phải chấp nhận “đội” chi phí 5 - 10%, đặc biệt có 18,4% doanh nghiệp rơi vào tình cảnh lao đao khi chi phí vọt lên trên 20%. Trong đó, các nhóm ngành như logistics - vận tải, thương mại - xuất nhập khẩu, sản xuất công nghiệp và xây dựng đang chịu áp lực lớn nhất.
“Kết quả này cho thấy, nếu không có giải pháp ứng phó phù hợp, áp lực chi phí có thể tiếp tục lan sang giá thành, lợi nhuận, dòng tiền, khả năng duy trì đơn hàng và sức chống chịu của doanh nghiệp nói chung” - báo cáo khảo sát của Ban IV nhấn mạnh.
Không dừng ở đầu vào, cú sốc còn lan sang cả chuỗi cung ứng và thị trường đầu ra. Có 52,2% doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi gián đoạn vận tải quốc tế và logistics, với các biểu hiện như giá cước tăng, thời gian vận chuyển kéo dài và phát sinh chi phí. Đồng thời, 53,5% doanh nghiệp cho biết, đơn hàng xuất khẩu giảm, chủ yếu tại các thị trường châu Á và Trung Đông.
Theo đánh giá của các chuyên gia, xung đột địa chính trị không còn mang tính ngắn hạn, mà có thể trở thành một phần của “trật tự thế giới mới”, kéo theo các hệ lụy dài hạn và khó lường.
Vì thế, Ban IV đã kiến nghị Thủ tướng Chính phủ các nhóm giải pháp, gồm: ưu tiên bình ổn giá năng lượng, giảm áp lực chi phí đầu vào và hỗ trợ ổn định nguồn cung; sớm triển khai các giải pháp hỗ trợ tín dụng, cơ cấu nợ, giảm lãi suất; tăng cường trao đổi thông tin, chia sẻ dự báo, cảnh báo sớm nhằm nâng cao khả năng thích ứng với tình hình thế giới nhiều biến động từ cả hai phía công - tư, bao gồm các thông tin, dự báo, cảnh báo sớm về tình hình thị trường năng lượng, vận tải quốc tế, chi phí logistics, tuyến hàng hải, chuỗi cung ứng theo ngành hàng…/.




















