CỔNG THÔNG TIN VÀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
Để tiếp cận vốn theo dòng tiền, doanh nghiệp cần làm gì? Ảnh minh họa: NĐT.
Như Tạp chí Nhà đầu tư/Nhadautu.vn đã thông tin, tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XVI, thảo luận về dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn yêu cầu chuyển mạnh từ cho vay dựa trên tài sản thế chấp sang đánh giá dòng tiền, dữ liệu giao dịch và hợp đồng đầu ra.
Cũng tại phiên họp, khi bàn về ngân hàng số, ông Nguyễn Thanh Tùng, Chủ tịch HĐQT Vietcombank lưu ý ngân hàng cần dữ liệu đầy đủ, chuẩn hóa để đánh giá khách hàng và quản trị rủi ro. Quyết định cấp tín dụng còn phụ thuộc vào chất lượng dữ liệu ấy.
Dòng tiền bắt đầu từ giao dịch được ghi nhậnDữ liệu từ Khảo sát doanh nghiệp của Ngân hàng Thế giới (WBES) cho thấy, vốn nội bộ vẫn được nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam sử dụng. Tỷ lệ doanh nghiệp trong mẫu có dùng nguồn này cho vốn lưu động là 99% ở kỳ khảo sát 2015 và 91,5% ở kỳ 2023.
Với đầu tư tài sản cố định, tỷ lệ doanh nghiệp có sử dụng vốn ngân hàng giảm từ 39,1% xuống 27,7% giữa hai kỳ. Đây là tỷ lệ doanh nghiệp có dùng từng nguồn, không phải tỷ trọng giá trị vốn; số liệu cũng chưa cho biết nguyên nhân khiến một doanh nghiệp không vay để đầu tư.
Tài sản bảo đảm tiếp tục giữ vai trò lớn trong các khoản vay đã được cấp. Năm 2023, 94% khoản vay hoặc hạn mức gần nhất của doanh nghiệp được khảo sát có yêu cầu tài sản bảo đảm. Chỉ tiêu này xét các doanh nghiệp đã có tín dụng, thuộc mọi quy mô trong khảo sát; không có nghĩa 94% toàn bộ doanh nghiệp phải thế chấp mới được vay.
Tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng các nguồn tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động tại các quốc gia, số liệu tính đến 2024 (%). Nguồn: WBES.
Giao dịch QR ghi lại số tiền và thời điểm khách trả. Tiền vào tài khoản cá nhân vẫn có trên sao kê nhưng khó tách khỏi các giao dịch riêng.
Điển hình như MoMo, thương hiệu ví điện tử có thị phần lớn nhất nhì Việt Nam cung cấp công cụ phân biệt doanh thu cửa hàng và tiền cá nhân. Để thẩm định, ngân hàng cần đối chiếu khoản thu với đơn hàng, hóa đơn, công nợ và chi phí.
Doanh nghiệp cũng có thể dùng dữ liệu này kiểm soát sổ sách, kê khai thuế. Mã QR tự nó không xác nhận lợi nhuận hay mặc nhiên chia sẻ dữ liệu cho ngân hàng khác, cơ quan thuế.
Thông tin đó có thể hình thành từ những việc rất thường ngày. Khi khách quét mã QR thanh toán cho một cửa hàng, hệ thống ghi nhận số tiền và thời điểm giao dịch. Qua nhiều tháng, người bán có thể theo dõi khoản thu nào đã về, tần suất giao dịch và biến động doanh thu.
Theo Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC), thanh toán số tạo ra hồ sơ giao dịch mà tổ chức tài chính có thể sử dụng để đánh giá rủi ro tín dụng của doanh nghiệp nhỏ. Giá trị của dữ liệu nằm ở khả năng kiểm tra những khoản tiền đã thực nhận theo thời gian, thay vì chỉ xem doanh thu doanh nghiệp dự kiến trên một phương án kinh doanh.
Tuy nhiên, thanh toán bằng tiền mặt hoặc qua tài khoản cá nhân, nếu không được ghi nhận và đối chiếu, vẫn để lại khoảng trống trong bức tranh dòng tiền.
Tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng các nguồn tài trợ cho nhu cầu vốn tài sản cố định tại các quốc gia, số liệu tính đến 2024 (%). Nguồn: WBES.Từ lịch sử bán hàng đến quyết định cho vay
Đầu năm 2024, Techcombank nêu sản phẩm tín chấp dựa trên dòng tiền dành cho nhà cung cấp và nhà phân phối của doanh nghiệp đa quốc gia. BIDV công bố khoản thấu chi không cần tài sản bảo đảm cho doanh nghiệp sử dụng phần mềm kế toán, hóa đơn điện tử MISA, hạn mức lên đến 3 tỷ đồng; ngân hàng xét hồ sơ và dữ liệu trên phần mềm.
Hai ví dụ cho thấy cách làm đã được thử với nhóm khách hàng cụ thể. Chúng không chứng minh cứ nhận tiền qua QR là được vay.
Tiền bán hàng thu về còn phải trả cho hàng hóa, lương, thuế và nợ cũ trước kỳ trả nợ mới. Hướng dẫn thẩm định của Techcombank nêu việc xem báo cáo lưu chuyển tiền tệ, kế hoạch sử dụng vốn, lịch sử tín dụng và tình hình tài chính.
BIDV cũng nêu các tiêu chí xếp hạng tín dụng nội bộ, năng lực tài chính và lịch sử quan hệ tín dụng khi xét khoản vay không có tài sản bảo đảm. Sao kê thiếu thông tin đối chiếu còn khó phân biệt doanh thu bán hàng với tiền chuyển giữa các tài khoản.
Với doanh nghiệp sản xuất, hợp đồng đầu ra bổ sung một lớp thông tin khác cho lịch sử thanh toán. Ở góc nhìn pháp lý, trao đổi với Tạp chí Nhà đầu tư/Nhadautu.vn, ThS-LS. Hoàng Hà (Đoàn Luật sư TP.HCM) cho biết, đơn hàng cho thấy doanh thu dự kiến; hóa đơn thể hiện giao dịch được ghi nhận nhưng chưa chứng minh tiền đã về; biên bản giao nhận, nghiệm thu và sao kê giúp kiểm tra việc thực hiện hợp đồng, thanh toán thực tế.
"Điều quan trọng không chỉ là doanh nghiệp có bao nhiêu đơn hàng mà là khả năng chuyển những đơn hàng đó thành dòng tiền thực tế để trả nợ đúng hạn", LS. Hoàng Hà nói.
Vị luật sư cũng phân tích, nếu bên mua thanh toán chậm hoặc hợp đồng bị hủy, doanh nghiệp vẫn phải trả nợ ngân hàng theo thỏa thuận vay. Vì vậy, dữ liệu giao dịch đã diễn ra và đơn hàng sẽ thực hiện cần được xem cùng nhau, thay vì lấy giá trị hợp đồng làm hạn mức vay một cách máy móc.
Khung pháp lý hiện hành đã cho phép tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận vay không áp dụng biện pháp bảo đảm. Ngân hàng vẫn phải đánh giá phương án sử dụng vốn và khả năng tài chính để trả nợ, đồng thời tự quyết định, chịu trách nhiệm đối với khoản vay không có bảo đảm.
Bởi vậy, việc có thêm lịch sử thanh toán không tạo ra quyền được vay tự động; nó giúp doanh nghiệp có thêm cách chứng minh hoạt động kinh doanh bên cạnh tài sản đang sở hữu.
Trong nghiên cứu về ứng dụng công nghệ tài chính, PGS-TS Đặng Ngọc Đức đề xuất doanh nghiệp chuẩn hóa thông tin kinh doanh, báo cáo tài chính và hợp tác cung cấp dữ liệu cho tổ chức tín dụng. Công nghệ có thể hỗ trợ chấm điểm, theo dõi và cảnh báo rủi ro, nhưng chỉ hữu ích khi giao dịch được ghi nhận đúng và thông tin từ các nguồn có thể đối chiếu.
Đó cũng là điểm khó của cho vay theo dòng tiền. Nếu doanh thu trong sổ sách, hóa đơn và tiền chuyển qua tài khoản không đối chiếu được với nhau, dữ liệu nhiều hơn chưa chắc giúp đánh giá chính xác hơn. Việc chưa tách bạch tài chính cá nhân với tài chính doanh nghiệp, như được nêu tại phiên thảo luận của Quốc hội, càng khiến ngân hàng khó xác định dòng tiền nào thực sự thuộc về hoạt động kinh doanh và có thể dùng để trả nợ.
Với doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng, thông tin về đơn hàng và quá trình giao nhận có thể được đối chiếu với bên mua, lịch sử thanh toán và dữ liệu tài khoản. Cách làm này giúp nhận diện cả nguồn thu lẫn thời điểm phát sinh nhu cầu vốn. Tuy nhiên, việc chia sẻ dữ liệu phải có căn cứ, phạm vi sử dụng rõ ràng và cơ chế sửa thông tin sai. Một hệ thống chấm điểm nhanh sẽ ít giá trị nếu giao dịch đầu vào không được xác thực hoặc doanh nghiệp không thể giải thích dữ liệu bất lợi cho mình.






















