CỔNG THÔNG TIN VÀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
(KTSG Online) – Việt Nam cần thêm nhiều doanh nghiệp tư nhân mạnh như Vingroup, Thaco, FPT, TH, Vinamilk, bên cạnh những doanh nghiệp Nhà nước giữ vai trò “sếu đầu đàn”, cùng hướng tới mục tiêu hình thành nền kinh tế độc lập, tự chủ, đưa đất nước vươn tầm trong kỷ nguyên mới.
Động lực quan trọng để xác lập mô hình tăng trưởng mớiBa động lực giúp Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng GDP cao năm 2026Khi “Nhà nước dám giao, tư nhân dám nhận”
Năm 2025 khép lại với mức tăng trưởng GDP 8,02% - một mức tăng trưởng cao, cho thấy sức chịu đựng của nền kinh tế trước những va đập liên tiếp từ địa chính trị, thương mại quốc tế và thiên tai cực đoan - những yếu tố khiến IMF và OECD ước tăng trưởng toàn chỉ khoảng 3,1–3,2%.
Kết quả này, theo TS Trần Du Lịch – chuyên gia kinh tế, tới từ việc Chính phủ và TPHCM đã lựa chọn mô hình phục hồi và tăng trưởng dựa trên ba trụ cột chính, gồm: thị trường nội địa, xuất khẩu và đầu tư công đóng vai trò dẫn dắt ngay sau đại dịch Covid-19
“Cách tiếp cận này đã mang lại những kết quả tích cực, giúp nền kinh tế phục hồi khá thành công trong bối cảnh nhiều biến động toàn cầu”, ông Lịch nói.
Nhà máy VinFast tại Subang, Indonesia, được đưa vào vận hành chỉ sau 17 tháng. Ảnh minh hoạ: DNCC
Nhờ những định hướng từ Chính phủ, khu vực kinh tế tư nhân đã phục nồi và vươn lên mạnh mẽ, đặc biệt từ khi Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị được ban hành, góp phần không nhỏ trong việc tạo ra kết quả tích cực.
Chẳng hạn, công trình Trung tâm triển lãm Việt Nam (VEC) khánh thành vào tháng 8-2025 - rút ngắn 60% thời gian thi công so với dự kiến, với nỗ lực của Vingroup và một số doanh nhiệp tư nhân trong nước, là một trong số nhiều minh chứng cho tính đúng đắn của Nghị quyết 68, khi mạnh dạn giao tư nhân những dự án tầm cỡ, từ đó phá bỏ định kiến “tư nhân chưa đủ sức làm”.
Trước đó, đơn vị này cũng chỉ mất 21 tháng để hoàn thiện nhà máy sản xuất ô tô VinFast, rồi ra mắt những sản phẩm đầu tiên sau đó không lâu - nhanh hơn nhiều so với khoảng thời gian 36-60 tháng của các hãng toàn cầu, trong khi sản xuất ô tô là lĩnh vực hoàn toàn mới với các doanh nghiệp Việt Nam. Mới đây, VinFast đã chính thức khánh thành nhà máy tại Subang (Indonesia) sau gần hai năm hiện diện ở thị trường này.
“Nếu có điểm sáng nào nổi bật trong 5 năm vừa qua, đó là sự dẻo dai, tinh thần vượt khó và khát vọng của đội ngũ doanh nhân trong những hoàn cảnh khó khăn chưa từng có. Tôi nghĩ, đó là phẩm chất đặc biệt của dân tộc ta, càng khó khăn thì phẩm chất đó càng được bộc lộ, phát huy”, TS Bùi Thanh Minh, Phó giám đốc chuyên môn, Văn phòng Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV) đánh giá.
Nhưng bên cạnh những kết quả đạt được, một số điểm nghẽn vẫn hiện hữu. Về xuất khẩu, Việt Nam vẫn duy trì mức tăng trưởng khoảng 8% trong điều kiện kinh tế thế giới nhiều khó khăn, song tỉ lệ nội địa hóa trong các sản phẩm xuất khẩu còn thấp.
Theo dõi quá trình phát triển xuất khẩu của Việt Nam, TS Trần Du Lịch cho biết năm 2007, dân số Việt Nam chiếm khoảng 1,3% dân số thế giới, còn kim ngạch xuất khẩu chỉ tương đương 0,3% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn cầu. Đến năm 2024, tỉ trọng xuất khẩu của Việt Nam chiếm khoảng 1,6% thị phần thế giới, cao hơn tỉ lệ dân số.
Tuy nhiên, động lực tăng trưởng dựa vào xuất khẩu theo mô hình hiện tại đang dần tiệm cận giới hạn. Hơn nữa, giá trị gia tăng thực sự mà nền kinh tế và doanh nghiệp nội địa giữ lại chưa tương xứng với quy mô kim ngạch, theo ông Lịch.
Còn TS Bùi Thanh Minh cho rằng thách thức lớn nhất là từ nội tại nền kinh tế và doanh nghiệp. Cụ thể, năng lực khoa học - công nghệ (KHCN) của doanh nghiệp còn hạn chế. Hiện nhiều đơn vị hoạt động chủ yếu dựa vào quản trị, chưa xây dựng mục tiêu dữ liệu, trong khi yêu cầu chứng minh tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm, chuyển đổi số, tích hợp công nghệ và nâng cao giá trị gia tăng đang dần trở thành điều kiện bắt buộc với doanh nghiệp xuất khẩu.
Ngoài ra, năng suất lao động của Việt Nam còn thấp, chỉ bằng 35% Malaysia và 80% Indonesia. “Những quốc gia này cũng đang nỗ lực thoát bẫy thu nhập trung bình. Do đó, Việt Nam phải giải quyết dứt điểm bài toán năng suất, đặc biệt trong bối cảnh dân số già hóa”, ông Minh nói.
Đã đến lúc nền kinh tế bước bằng hai “chân”
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã đặt ra mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026–2030, cùng hàng loạt chỉ tiêu về quy mô và chất lượng tăng trưởng, từ thu nhập bình quân đầu người, cơ cấu công nghiệp đến kinh tế số và năng suất lao động.
Như Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh trong bài viết “TIẾN LÊN! TOÀN THẮNG ẮT VỀ TA!”, giai đoạn trước mắt là khoảng thời gian bản lề quyết định việc hoàn thành mục tiêu đến năm 2030 trở thành quốc gia có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, đồng thời đặt nền móng cho khát vọng 2045 – Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
“Điều đó đòi hỏi nền kinh tế liên tục trong nhiều năm phải tăng trưởng bình quân 10%/năm hoặc cao hơn – một tốc độ đột phá chưa từng có, nhưng là mục tiêu hoàn toàn có cơ sở khi chúng ta biết phát huy tối đa các nguồn lực”, ông khẳng định.
Kinh tế nhà nước không cần hiện diện ở mọi lĩnh vực, mà nên tập trung vào những không gian mà khu vực tư nhân còn dè dặt hoặc chưa đủ khả năng tham gia. Ảnh: N.K
Từ góc nhìn chuyên gia, TS Bùi Thanh Minh cho rằng mục tiêu trở thành nước có thu nhập cao, vào năm 2045 của Việt Nam sẽ phụ thuộc vào sự lớn mạnh của doanh nghiệp trong nước - khu vực tạo ra sức mạnh nội sinh của đất nước.
Cụ thể, trong bối cảnh cục diện chính trị và kinh tế toàn cầu có nhiều thay đổi, xuất hiện ngày càng rõ nét các xu hướng bảo hộ mới gắn với các yêu cầu kĩ thuật - thương mại mới. Việt Nam cần có chính sách phát triển các doanh nghiệp có năng lực dẫn dắt, để tạo động lực mới cho nền kinh tế, góp phần nâng cao năng suất, thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong một số ngành, lĩnh vực kinh tế trọng tâm quốc gia. Đồng thời thúc đẩy các lĩnh vực mới nổi để tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp Việt và nền kinh tế.
“Định hướng chính sách không chỉ tập trung vào các doanh nghiệp lớn hiện hữu, mà cần quan tâm kiến tạo môi trường thuận lợi giúp nhiều doanh nghiệp nội địa có khả năng vươn lên, giành vị thế dẫn dắt. Việc đặt ra các bài toán lớn quốc gia theo cơ chế “đặt hàng” với yêu cầu “liên kết chuỗi giá trị nội địa”. Đồng thời với các cơ chế minh bạch và đảm bảo sự công bằng, không phân biệt giữa các doanh nghiệp khu vực nhà nước với khu vực tư nhân là xu hướng được nhiều doanh nghiệp kì vọng”, ông Minh nói.
Thực tế, những mong muốn của ông Minh và cộng đồng doanh nghiệp đã phần nào được thể hiện tại Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế Nhà nước, với nội dung “khuyến khích khu vực tư nhân và các tổ chức xã hội tham gia cung ứng dịch vụ sự nghiệp công, đồng thời mở rộng và nâng cao hiệu quả cơ chế hợp tác công - tư trong các lĩnh vực dịch vụ sự nghiệp công có khả năng cạnh tranh”.
Trong khi đó, khu vực kinh tế nhà Nước được đặt vào vị thế chủ thể tiên phong kiến tạo phát triển, có trách nhiệm “mở đường” trong những lĩnh vực có tính nền tảng. Qua đó, tạo hiệu ứng lan tỏa tới khu vực tư nhân và các thành phần kinh tế khác.
Theo Luật sư Nguyễn Thanh Hà, Chủ tịch Công ty luật SBLAW, đây là cách tiếp cận hiện đại khi Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, điều tiết và bảo đảm lợi ích công. Còn việc cung ứng dịch vụ có thể được xã hội hóa, trên cơ sở cạnh tranh lành mạnh và minh bạch.
“Việc khuyến khích khu vực tư nhân và các tổ chức xã hội tham gia cung ứng dịch vụ sự nghiệp công không làm suy giảm vai trò của kinh tế Nhà nước, mà ngược lại giúp khu vực này tập trung tốt hơn vào những chức năng cốt lõi, mang tính chiến lược như hoạch định chính sách, xây dựng tiêu chuẩn, kiểm soát chất lượng và bảo đảm công bằng xã hội”, ông Hà nói.
Cũng theo chuyên gia này, việc nhấn mạnh mở rộng và nâng cao hiệu quả cơ chế hợp tác công - tư cho thấy, Nghị quyết đã tiếp cận đúng bản chất của PPP, không chỉ như một công cụ huy động vốn, mà là một cơ chế chia sẻ nguồn lực, rủi ro và lợi ích giữa Nhà nước và khu vực tư nhân.
“Doanh nghiệp Nhà nước không thể và không cần hiện diện tràn lan trong mọi lĩnh vực. Nguồn lực cần tập trung cho những ngành then chốt, có vai trò nền tảng và khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa lớn, như: năng lượng, hạ tầng chiến lược, tài chính - ngân hàng, công nghệ cao, logistics và một số lĩnh vực bảo đảm an ninh kinh tế quốc gia”, ông Hà nói.

























