CỔNG THÔNG TIN VÀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ

Khởi tạo thị trường, thay đổi luật chơi để giữ chân "đại bàng" FDI?

Invest Global 08:31 14/07/2026

Bằng các công cụ đồng bộ, dự kiến tỷ lệ nội địa hóa và khả năng tự chủ nguyên vật liệu, linh kiện trong nước hoàn toàn có thể đạt từ 45-50% vào năm 2030.

ông Phạm Văn Quân - Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương) Ông Phạm Văn Quân - Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương - Ảnh BCT)

Thưa ông, thời gian qua, tư duy làm chính sách công nghiệp thường vấp phải những rào cản về cơ chế xin - cho hoặc nặng tính quản lý hành chính. Xin ông cho biết Dự thảo Luật Công nghiệp trọng điểm lần này mang đến sự thay đổi mang tính cốt lõi nào trong cách tiếp cận?

Chúng tôi đang tiến hành xây dựng đề án Luật Công nghiệp trọng điểm với một tư duy đổi mới toàn diện trong cách tiếp cận. Lần này, cơ quan soạn thảo sẽ không tập trung vào tư duy quản lý nhà nước đơn thuần thông qua các công cụ như quy hoạch hay giấy phép như các đạo luật khác. Thay vào đó, trọng tâm là xây dựng và tạo lập các thể chế nhằm phát triển doanh nghiệp trong nước cũng như các sản phẩm công nghiệp chiến lược của Việt Nam.

Thông qua một số công cụ, chúng tôi dự kiến tạo lập thị trường để sản phẩm nội địa có "đất sống". Cơ chế tiếp cận có thể đi theo hướng yêu cầu các dự án trong nước phải ưu tiên mua sắm sản phẩm sản xuất nội địa; hoặc quy định cộng điểm ưu tiên cao hơn trong đấu thầu đối với những sản phẩm mà trong nước đã làm được. Thậm chí, chúng tôi cũng tính đến việc yêu cầu các nhà đầu tư nước ngoài khi sản xuất những sản phẩm chiến lược này bắt buộc phải liên doanh với doanh nghiệp Việt để cùng phát triển.

Đặc biệt, dự thảo có cơ chế hỗ trợ đối với "sản phẩm đầu tiên". Đây là yếu tố cực kỳ quan trọng, bởi rất nhiều sản phẩm sản xuất trong nước cần một thị trường bệ phóng. Chúng tôi sẽ xây dựng các cơ chế nhằm tạo lập đơn hàng, đảm bảo một quy mô thị trường tối thiểu cũng như đầu ra tiêu thụ cho những sản phẩm đó.

Tạo hành lang pháp lý để phát triển ngành công nghiệp trọng điểm Việt Nam Tạo hành lang pháp lý để phát triển ngành công nghiệp trọng điểm Việt Nam (Ảnh PVN)

Thực tế, tỷ lệ nội địa hóa các mặt hàng công nghiệp của chúng ta hiện nay khá thấp, thể hiện qua lượng nhập khẩu tư liệu sản xuất tăng mạnh trong 6 tháng đầu năm. Vậy đạo luật này sẽ giải quyết bài toán giảm phụ thuộc nguyên liệu ngoại và thúc đẩy tự chủ chuỗi cung ứng như thế nào, thưa ông?

Từ khi có nghị quyết của Chính phủ về việc xây dựng chính sách cho Luật Công nghiệp trọng điểm, chúng tôi tập trung vào hai chính sách lớn: phát triển sản phẩm công nghiệp trọng điểm và phát triển công nghiệp hỗ trợ.

Đối với công nghiệp hỗ trợ, chúng tôi thay đổi hoàn toàn hướng tiếp cận so với giai đoạn trước. Dự thảo sẽ tập trung hỗ trợ các doanh nghiệp "đầu chuỗi", bao gồm cả doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp lớn trong nước. Tuy nhiên, điều kiện đi kèm là sau khi nhận ưu đãi, họ bắt buộc phải hình thành chuỗi cung ứng nội địa theo lộ trình đã cam kết. Nếu không đáp ứng được tiêu chí phát triển thị trường chuỗi cung ứng trong nước, các doanh nghiệp đầu chuỗi này sẽ lập tức bị tước bỏ những ưu đãi đó.

Ngoài ra, chúng tôi có kế hoạch xây dựng các Trung tâm Hỗ trợ phát triển công nghiệp dùng chung. Cơ sở này nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chưa đủ tiềm lực tài chính để đầu tư vào R&D (Nghiên cứu & Phát triển) hay thử nghiệm có thể sử dụng hạ tầng do Nhà nước đầu tư để tối ưu hóa chi phí. Đồng thời, căn cứ theo Quyết định 929 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ, chúng tôi cũng triển khai các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cụ thể cho doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng từ nay đến năm 2030. Bằng các công cụ đồng bộ như vậy, dự kiến tỷ lệ nội địa hóa và khả năng tự chủ nguyên vật liệu, linh kiện trong nước hoàn toàn có thể đạt từ 45-50% vào năm 2030.

Ông có đề cập đến việc dùng cơ chế đặc thù, thông thoáng để thu hút các nhà đầu tư lớn, những "con đại bàng" đến làm tổ. Ông có thể chia sẻ chi tiết hơn về cách chúng ta "trải thảm đỏ" nhưng vẫn ràng buộc trách nhiệm của họ?

Để thu hút những nhà đầu tư chiến lược trong giai đoạn tới, chúng ta rất cần những cơ chế đột phá. Tôi lấy ví dụ, giai đoạn trước khi tập đoàn Intel muốn mở rộng quy mô nhà máy ở TP. Hồ Chí Minh từ 1 tỷ USD lên 3 tỷ USD, họ đã đề nghị một số ưu đãi nhất định, nhưng ở thời điểm đó chúng ta chưa có những chính sách đủ cụ thể và đặc thù để đáp ứng. Hay như với Samsung, thời gian qua chúng ta đã thu hút họ đầu tư vào hệ sinh thái bán dẫn và áp dụng một số cơ chế tốt, nhưng thực tế những cam kết của họ đối với Chính phủ về việc đào tạo, bồi dưỡng để doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng vẫn còn khá chung chung, chưa đạt kỳ vọng như mong muốn.

Tạo điều kiện để doanh nghiệp nội địa tham gia vào các dự án mới thông qua cơ chế đấu thầu đặc thù Tạo điều kiện để doanh nghiệp nội địa tham gia vào các dự án mới thông qua cơ chế đấu thầu đặc thù

Rút kinh nghiệm từ thực tiễn, Luật Công nghiệp trọng điểm đề xuất các cơ chế đột phá như: cho phép nhà đầu tư tiếp cận các nguồn tài nguyên chiến lược, hoặc giao cho họ các dự án lớn để triển khai. Nhưng đổi lại, họ cần phải có những cam kết cực kỳ cụ thể ngay từ đầu, chẳng hạn như bắt buộc phải xây dựng trung tâm nghiên cứu R&D hoặc triển khai các dự án đối ứng nhằm phát triển nhà cung ứng tại Việt Nam. Đi kèm với đó là cơ chế giám sát, hậu kiểm gắt gao. Nếu nhà đầu tư đầu tư xong nhưng không đạt tiêu chí và không thực hiện đúng cam kết, các ưu đãi lập tức bị thu hồi.

Một điểm rất đáng chú ý trong dự thảo là việc tạo cơ hội cho nhà thầu, doanh nghiệp nội địa tham gia vào các dự án mới thông qua cơ chế đấu thầu đặc thù. Việc này liệu có "va chạm" với các hành lang pháp lý hiện hành không, thưa ông?

Đây chính là một thách thức lớn. Do Luật Công nghiệp trọng điểm ra đời muộn hơn, nên chắc chắn sẽ có sự "va chạm" với rất nhiều luật hiện hành như Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư công, cũng như một số cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia.

Cơ quan soạn thảo đang tích cực nghiên cứu tìm cách hài hòa các quy định này. Tuy nhiên, đối với một số lĩnh vực mang tính cốt lõi liên quan đến an ninh quốc gia, chúng ta hoàn toàn có thể mạnh dạn áp dụng cơ chế Nhà nước đặt hàng. Cách tiếp cận này tương tự như một số quốc gia lớn đang làm, ví dụ như Mỹ có đạo luật CHIPS Act, hay Trung Quốc với chiến lược "Made in China", tất cả đều nhằm mục tiêu bảo hộ và phát triển các lĩnh vực công nghiệp trọng điểm trong nước. Để triển khai được việc mua sắm và tạo lập thị trường, chúng ta bắt buộc phải có những cơ chế mang tính đặc thù như vậy.

Nhìn một cách tổng thể, nếu đạo luật này được thông qua, bức tranh và vị thế của các doanh nghiệp nội địa sẽ thay đổi ra sao trên bản đồ công nghiệp toàn cầu, thưa ông?

Kỳ vọng lớn nhất của chúng tôi là thông qua đạo luật này, Việt Nam có thể thu hút được những nhà đầu tư lớn tầm cỡ top 500 doanh nghiệp hàng đầu thế giới đến "làm tổ".

Dựa trên sự xuất hiện của họ, các doanh nghiệp Việt sẽ được hưởng lợi trực tiếp từ quá trình chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực và đặc biệt là cơ hội tham gia vào thị trường cũng như chuỗi cung ứng của chính những tập đoàn này. Đó là con đường tốt nhất để doanh nghiệp Việt có thể vươn ra thị trường toàn cầu.

Hiện tại, chúng ta đang ở thế khá bị động, phụ thuộc vào thiện chí của các doanh nghiệp FDI trong việc họ có đồng ý cho đối tác Việt tham gia chuỗi hay không. Khi có hành lang pháp lý buộc chúng ta đồng hành cùng họ, cùng sản xuất và cùng tham gia vào chuỗi cung ứng, doanh nghiệp Việt sẽ dần làm chủ được công nghệ, nguyên liệu và thiết bị. Điều này không chỉ bảo đảm an ninh chuỗi cung ứng mà còn gắn liền với vấn đề an ninh quốc gia.

Trân trọng cảm ơn ông!

Ý kiến chuyên gia