CỔNG THÔNG TIN VÀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
(KTSG) - Bộ Chính trị đã đồng ý cho TPHCM xây dựng Luật Đô thị đặc biệt, tương tự Luật Thủ đô. TPHCM đã lập Ban chỉ đạo xây dựng đề án đánh giá Nghị quyết 31/2022 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển TPHCM đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và nghiên cứu xây dựng Luật Đô thị đặc biệt. Tạp chí Kinh tế Sài Gòn trao đổi với PGS.TS. Thái Thị Tuyết Dung, Trưởng ban Pháp chế, Đại học Quốc gia TPHCM về việc này.
TPHCM lập Ban Chỉ đạo, khởi động Luật Đô thị đặc biệtKiến nghị xây dựng Luật Đô thị đặc biệt cho TPHCM
KTSG: Bộ Chính trị đã cho phép TPHCM nghiên cứu xây dựng Luật Đô thị đặc biệt, quan điểm của bà về chủ trương này như thế nào?
- PGS.TS. Thái Thị Tuyết Dung: Trong nhiều năm qua, TPHCM đã được Quốc hội trao các cơ chế, chính sách đặc thù, cụ thể là Nghị quyết 98/2023/QH15 và Nghị quyết 260/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung Nghị quyết 98, Nghị quyết 188/2025/QH15 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt để phát triển hệ thống mạng lưới đường sắt đô thị tại Hà Nội và TPHCM; Nghị quyết 222/2025/QH15 về Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam (đặt tại TPHCM và thành phố Đà Nẵng).
Những nghị quyết này đã giúp thành phố có thêm không gian thử nghiệm và tạo ra nhiều sáng kiến quản trị. Tuy nhiên, đây mới chỉ là các cơ chế để TPHCM thực hiện các dự án lớn, quan trọng trên địa bàn, giải quyết một số “nút thắt kỹ thuật”, nhưng chưa thể xử lý triệt để những điểm nghẽn thể chế mang tính hệ thống, chưa bao quát toàn diện mô hình quản trị.
Cụ thể, để quản trị đô thị như TPHCM, những vấn đề về bộ máy, tài chính, giáo dục - đào tạo, y tế, an sinh xã hội… cũng cần có những cơ chế đặc thù, đột phá chứ không chỉ những vấn đề trong các nghị quyết đã nêu trên.
Vì vậy, khi có Luật Đô thị đặc biệt, TPHCM sẽ có khung pháp lý toàn diện, ổn định lâu dài để thành phố chủ động hơn trong việc quyết định quản trị đô thị, tổ chức thực hiện các dự án hạ tầng quy mô lớn, có tính chất kết nối vùng và liên vùng, xây dựng mô hình chính quyền đô thị hiện đại, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
Những điều này giúp thành phố đóng góp hiệu quả vào sự phát triển bền vững của đất nước và giữ vững vị thế cực tăng trưởng chiến lược trong nhiều thập niên tới.
KTSG: Nhìn vào đường găng tiến độ, có thể thấy sự khẩn trương chưa từng có đối với một luật mang tính bước ngoặt của một “siêu đô thị” (dự kiến hoàn thành đề cương luật trong tháng 3-2026; hoàn tất dự thảo vào tháng 4-2026; từ tháng 5 đến tháng 6-2026, các hội thảo và hoạt động lấy ý kiến sẽ được tổ chức để hoàn thiện dự thảo trước khi trình Quốc hội khóa XVI xem xét, thông qua tại kỳ họp thứ hai vào cuối năm 2026). Sự “khẩn trương” này xuất phát từ đâu, thưa bà?
- Tôi nghĩ sự khẩn trương này xuất phát từ nhiều lý do, nhưng Nghị quyết 66 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới là cơ sở chính trị rất quan trọng.
Cụ thể, Nghị quyết 66 đã xác định “việc phân cấp, phân quyền chưa đủ mạnh, thiếu cơ chế phản ứng chính sách kịp thời, hiệu quả”, đồng thời yêu cầu khẩn trương sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật theo phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm” và cơ cấu lại không gian phát triển mới ở từng địa bàn.
Hơn nữa, bối cảnh thế giới đang bước vào một giai đoạn biến động rất mạnh, công nghệ phát triển rất nhanh, nhiều mô hình thương mại, tài chính đang được triển khai, nên TPHCM sẽ là nơi “thử nghiệm chính sách” hiệu quả nhất, khắc phục những hạn chế về độ trễ chính sách so với thực tiễn hiện nay.
KTSG: Theo bà, Luật Đô thị đặc biệt cần "đặc biệt" ở những điểm nào nhất?
- Đặc biệt đầu tiên là ở chỗ, chỉ áp dụng cho đô thị loại đặc biệt. Theo Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn 2025 thì ở nước ta có hai đô thị loại đặc biệt là thủ đô Hà Nội và TPHCM. Hà Nội hiện đã có Luật Thủ đô, nên Luật Đô thị đặc biệt này sẽ có phạm vi áp dụng trước mắt là TPHCM.
Trong nhiều năm qua, TPHCM đã là trung tâm kinh tế lớn nhất của Việt Nam và là một trong những đầu tàu tăng trưởng của cả nước nhưng để cạnh tranh với các trung tâm kinh tế lớn trong khu vực thì chưa đủ vì TPHCM - đô thị gần 15 triệu dân - hiện chưa có một khung pháp lý vượt trội để phát triển theo đúng tính chất của siêu đô thị, do đó, nếu được thông qua, luật này cần các cơ chế như sau:
Thứ nhất, phân cấp, phân quyền tối đa, toàn diện và phân định rõ thẩm quyền của hội đồng nhân dân (HĐND), ủy ban nhân dân (UBND), chủ tịch UBND, dĩ nhiên phải bảo đảm không phương hại đến chủ quyền quốc gia, lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại, tôn giáo...
Luật này phải xác lập cụ thể những lĩnh vực cụ thể nào mà thành phố có thể chủ động quyết định, đặc biệt về quy hoạch, quản lý đầu tư, quản lý hạ tầng, tài chính, phát triển kinh tế đô thị và tổ chức bộ máy hành chính; những lĩnh vực nào phải xin ý kiến cấp trên.
Ví dụ, về tổ chức bộ máy, có thể cho phép HĐND thành phố tự quyết định tổ chức bộ máy, như quy định tỷ lệ đại biểu HĐND chuyên trách. Về quy hoạch, thành phố chỉ cần có một tổng thể, HĐND thành phố quy định về trình tự thủ tục thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh quy hoạch tổng thể, sau đó chủ tịch UBND căn cứ quy định này sẽ ra quyết định phê duyệt quy hoạch.
Thứ hai, cần ghi nhận rõ nguyên tắc áp dụng văn bản, đó là những văn bản của địa phương triển khai cơ chế chính sách đặc thù của Luật Đô thị đặc biệt nếu trái với văn bản trung ương thì vẫn được áp dụng.
Thứ ba, đồng thời, khi trao quyền tự chủ nhiều, cần có cơ chế kiểm tra, giám sát, giải trình chặt chẽ. Cần có cơ chế miễn trừ, loại trừ trách nhiệm pháp lý đối với cán bộ, công chức, viên chức khi tham gia ban hành văn bản, triển khai thi hành Luật Đô thị đặc biệt đã tuân thủ đầy đủ các quy trình, quy định liên quan và không vụ lợi trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nhưng vẫn xảy ra thiệt hại.
Với những cơ chế phân cấp, phân quyền vượt trội, với các nguyên tắc xây dựng và áp dụng pháp luật đột phá, và cơ chế giám sát chặt chẽ, tôi tin rằng, Luật Đô thị đặc biệt cũng sẽ được phân cấp, phân quyền mạnh nhất từ trước đến nay, để TPHCM - siêu đô thị của Việt Nam, sẽ tự chủ hơn trong việc hoạch định và phát triển thành phố, là cực tăng trưởng quốc gia trong tầm nhìn phát triển đến năm 2045. Điều này cũng tương thích với “dòng chảy” của các chính sách vượt trội, đột phá đang được thể hiện trong dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi).
KTSG: Luật Đô thị đặc biệt cần tính đến cơ chế liên kết vùng như thế nào trong bối cảnh các khu vực Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long có liên quan chặt chẽ đến TPHCM?
- Với vị trí và vai trò đặc thù của TPHCM mà không thành phố nào ở Việt Nam có được, TPHCM là trung tâm của một vùng đô thị và kinh tế rất rộng lớn, kết nối chặt chẽ với toàn bộ Đông Nam bộ và ngày càng gắn bó với đồng bằng sông Cửu Long nên Luật Đô thị đặc biệt cần đặt TPHCM trong mối quan hệ hữu cơ với không gian phát triển vùng để TPHCM thật sự đóng vai trò trung tâm điều phối, tối ưu hóa nguồn lực và lan tỏa động lực tăng trưởng cho toàn bộ khu vực phía Nam.
Rất nhiều vấn đề như giao thông, logistics, môi trường, phát triển công nghiệp, đến thị trường lao động mang tính liên vùng nhưng hiện nay chúng ta đang quản trị theo ranh giới địa giới hành chính từng địa phương, nên việc phối hợp phát triển đôi khi còn thiếu đồng bộ và chưa phát huy hết tiềm năng của cả vùng.
Do đó, Luật Đô thị đặc biệt cần tạo khung pháp lý cụ thể cho việc phối hợp và điều phối phát triển kinh tế liên vùng, để TPHCM không phải là một đô thị riêng lẻ, mà giữ vai trò hạt nhân phát triển của cả vùng kinh tế phía Nam. Ví dụ, cần có quy định thống nhất quy chuẩn, tiêu chuẩn về hạ tầng giao thông, hạ tầng chung của vùng, về xử lý ô nhiễm môi trường, phát triển chuỗi sản xuất, logistics… Hoặc có cơ chế về Quỹ phát triển vùng để triển khai cơ sở hạ tầng đồng bộ và thống nhất.






















