CỔNG THÔNG TIN VÀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
Sông Hồng từ lâu giữ vai trò đặc biệt trong quá trình hình thành và phát triển Hà Nội. Tuy nhiên, hệ thống đê điều cùng hạ tầng thiếu đồng bộ khiến nhiều khu vực ven sông chưa được khai thác tương xứng, không gian đô thị bị chia cắt và khả năng tiếp cận dòng sông của người dân còn hạn chế.
Điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng tỷ lệ 1/5.000, gắn với Dự án đầu tư Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng, được Hà Nội xác định là bước chuyển quan trọng trong tổ chức không gian khu vực này.
Mục tiêu là từng bước hình thành trục không gian xanh trung tâm gắn với văn hóa sáng tạo, đồng thời tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao giá trị cảnh quan, văn hóa và sinh thái của Thủ đô.
Phạm vi nghiên cứu trải dài khoảng 40km theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở, với tổng diện tích khoảng 11.418ha. Khu vực này đi qua 16 xã, phường, hiện có khoảng 279.500 người sinh sống.
Đáng chú ý, khoảng 30% diện tích nghiên cứu là mặt nước, trong đó riêng mặt nước sông Hồng khoảng 3.378ha; đất sản xuất nông nghiệp chiếm khoảng 50%, tương đương 5.741ha. Đây là nền tảng quan trọng để hình thành một hành lang xanh lớn giữa lòng đô thị.
Quy hoạch đặt ra 6 giá trị cốt lõi: an toàn phòng, chống lũ - sinh thái - hạ tầng - chuyển đổi chức năng - phát triển kinh tế - văn hóa, văn minh.
Mở không gian phát triển mới bên sông Hồng. Ảnh minh họa
Theo đó, tư duy phát triển được chuyển từ một đô thị “quay lưng ra sông” sang “quay mặt vào sông”, khai thác lợi thế cảnh quan nhưng không đánh đổi an toàn phòng, chống lũ.
Không gian hai bên sông được định hướng trở thành hành lang xanh với cây xanh, mặt nước, công viên, không gian văn hóa - lịch sử, dịch vụ du lịch, giải trí và các công trình công cộng. Đây cũng là nơi có thể tổ chức các hoạt động lễ hội, văn hóa cộng đồng, góp phần hình thành một hình ảnh mới cho sông Hồng trong cấu trúc đô thị Hà Nội.
Đặc biệt, nguyên tắc xuyên suốt là không thu hẹp không gian thoát lũ, không xây đê mới nằm trong đê cũ. Các giải pháp thích ứng lũ được nghiên cứu theo hướng sử dụng công trình cảnh quan có khả năng tháo dỡ, đê lũ sinh thái dạng bậc thang, vườn mưa và các giải pháp phục hồi sinh thái.
Hướng tuyến giao thông cũng được nghiên cứu bám sát hệ thống đê hiện hữu, vừa tận dụng hạ tầng, vừa bảo đảm yêu cầu an toàn.
3 phân đoạn, 3 sắc thái phát triểnKhông gian ven sông Hồng được tổ chức thành 3 phân đoạn, mỗi khu vực có chức năng và định hướng phát triển riêng.
Phân đoạn 1, từ cầu Hồng Hà đến cầu Thăng Long, rộng khoảng 3.436ha, dân số dự kiến khoảng 160.000 người. Khu vực này được định hướng tái thiết đô thị, cải tạo và chỉnh trang làng xóm truyền thống, phát triển công viên sinh thái, bảo tồn tự nhiên và các không gian thể dục, thể thao.
Phân đoạn 2, từ cầu Thăng Long đến cầu Thanh Trì, có quy mô khoảng 4.548ha, dân số dự kiến khoảng 541.000 người. Đây là khu vực trọng tâm, được xác định như một “phòng khách đô thị” của Thủ đô, tập trung tái thiết đô thị, phát triển trung tâm dịch vụ tài chính, thương mại, đổi mới sáng tạo và các công trình điểm nhấn, tạo liên kết giữa Hồ Tây và Cổ Loa.
Phân đoạn 3, từ cầu Thanh Trì đến cầu Mễ Sở, rộng khoảng 3.435ha, dân số dự kiến khoảng 499.000 người. Khu vực này tập trung phát triển các cụm công viên, đô thị định cư và đô thị đa mục tiêu, kết hợp dịch vụ - thương mại và không gian nông nghiệp sinh thái.
Toàn khu dự kiến có dân số khoảng 800.000-1,2 triệu người. Chỉ tiêu đất dân dụng khoảng 55m²/người, trong đó đất đơn vị ở khoảng 15m²/người.
Mật độ xây dựng gộp được định hướng ở mức khoảng 60% đối với khu dịch vụ - công cộng; 35-40% đối với nhóm nhà ở; 25% tại công viên chuyên đề và chỉ khoảng 5% tại công viên công cộng.
Tầng cao phổ biến của các công trình được đề xuất từ 30-45 tầng. Điểm nhấn đặc biệt là Tháp Kỷ nguyên cao 109 tầng. Ngược lại, tại các làng xóm truyền thống, công trình được định hướng thấp tầng, dự kiến khoảng 3 tầng, nhằm bảo vệ đặc trưng không gian làng.
Không gian khu vực cũng được phân theo 3 mức thềm địa hình. Khu vực cao trên 11,5m có thể nghiên cứu xây dựng mới; khu vực từ 9,5-11,5m được tổ chức linh hoạt với các công trình thích ứng và bố trí dân cư hiện hữu; khu vực dưới 9,5m ưu tiên phục hồi sinh thái, giao thông chậm và đường dạo.
Cùng với đó, Dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng được triển khai thông qua 18 dự án thành phần, gồm 2 dự án giao thông trên bờ tả và hữu, 11 dự án công viên, 2 dự án kè và chỉnh trị lòng sông, bờ sông và 3 dự án đô thị định cư, đô thị đa mục tiêu.
Mạng lưới cầu, đường bộ, đường thủy và đường sắt đô thị được kỳ vọng tạo hệ thống kết nối liên hoàn giữa hai bờ sông cũng như giữa khu vực ven sông với các khu vực phát triển khác của Hà Nội.
Theo phương án điều chỉnh, toàn bộ khu vực được chia thành ba phân đoạn với chức năng trọng tâm khác nhau. Ảnh minh họa Làng ven sông: Di dời có chọn lọc, bảo tồn giá trị
Một trong những vấn đề được quan tâm nhất trong điều chỉnh quy hoạch là số phận các làng xóm lâu đời nằm trong khu vực nghiên cứu.
Theo định hướng, Hà Nội không áp dụng một phương án đồng nhất mà phân loại cụ thể các khu vực di dời, tái thiết, cải tạo, chỉnh trang và bảo tồn tùy theo điều kiện thực tế.
Hai cụm làng thuộc diện di dời theo yêu cầu phòng, chống lũ gồm một phần cụm Võng La - Hải Bối, tại các thôn Võng La, Yên Hà, Hải Bối, với tổng diện tích khoảng 27ha; và làng Bắc Cầu tại phường Bồ Đề, diện tích khoảng 35,5ha.
Hai cụm làng được định hướng tái thiết để phục vụ khu vực “phòng khách đô thị” gồm Nhật Tân - Tứ Liên, diện tích khoảng 96ha và cụm Thống Nhất - Hạ Trại - Trung Thôn, khoảng 12ha.
Trong khi đó, 8 cụm làng được định hướng cải tạo, chỉnh trang có chọn lọc gồm Văn Quán - Đông Cao - Tráng Việt; Ngọc Giang - Lực Canh - Văn Tinh; Bát Tràng - Giang Cao - Kim Lan; Văn Đức; Thúy Lĩnh; Yên Mỹ; Đại Lan và Tranh Khúc - Vạn Phúc. Riêng cụm Bát Tràng - Giang Cao - Kim Lan có khoảng 4,5ha dự kiến di dời theo quy hoạch phòng, chống lũ.
Với các làng được giữ lại, nguyên tắc đặt ra là không làm tăng quy mô diện tích và dân số cơ học; đồng thời kiểm soát mật độ xây dựng, tầng cao công trình ở mức thấp để duy trì không gian làng xã.
Khu vực lõi các làng nghề truyền thống, làng có giá trị về kiến trúc, lịch sử và văn hóa được định hướng bảo tồn. Các di tích lịch sử, văn hóa và địa điểm lưu niệm cách mạng, kháng chiến cũng được bảo tồn gắn với cộng đồng.
Toàn khu hiện có 123 công trình di tích, gồm 1 di tích quốc gia đặc biệt, 26 di tích cấp quốc gia, 35 di tích cấp thành phố và 61 di tích chưa xếp hạng, cùng 14 địa điểm lưu niệm sự kiện cách mạng, kháng chiến.
Với những trường hợp phải di dời, Hà Nội đặt nguyên tắc ưu tiên duy trì địa bàn sinh sống, sinh kế và sự gắn kết cộng đồng. Khu tái định cư được yêu cầu có điều kiện sống bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ.
Thứ tự ưu tiên là bố trí ngay trên địa bàn xã, phường nếu đủ quỹ đất và phù hợp quy hoạch; tiếp đến là khu vực lân cận, bảo đảm thuận lợi cho việc làm, học tập, sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt cộng đồng. Các khu định cư tập trung có hạ tầng đồng bộ và khu đô thị đa mục tiêu sẽ là nguồn quỹ bổ sung.
Chính sách bồi thường, hỗ trợ cũng được đặt ra theo hướng bảo đảm quyền lợi của người dân bị thu hồi đất. Theo báo cáo, những trường hợp đất ở, đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp đủ điều kiện được bồi thường sẽ được áp dụng mức bồi thường bằng tiền gấp 2 lần mức quy định; đồng thời xem xét các khoản hỗ trợ ổn định đời sống, sản xuất - kinh doanh, di chuyển tài sản và hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm đối với đất nông nghiệp./.



















