CỔNG THÔNG TIN VÀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
Thi công dự án cao tốc Vinh - Thanh Thuỷ đang thiếu đất đắp khiến một số nhà thầu phải tận thu đất từ nhà dân. Ảnh: Văn DũngLoạt đại dự án triển khai cùng lúc
Nghệ An đang bước vào giai đoạn đầu tư mạnh mẽ với hàng loạt dự án quy mô lớn được triển khai đồng thời. Đây là động lực quan trọng để địa phương mở rộng không gian phát triển, thu hút dòng vốn mới và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, phía sau những dự án có tổng mức đầu tư hàng nghìn, thậm chí hàng chục nghìn tỷ đồng là nhu cầu rất lớn về vật liệu xây dựng.
Từ tuyến cao tốc Vinh – Thanh Thủy có tổng mức đầu tư hơn 23.900 tỷ đồng, dự án Nhà máy Nhiệt điện LNG Quỳnh Lập khoảng 2,2 tỷ USD, đến các khu công nghiệp, khu đô thị và hạ tầng kỹ thuật, lượng đất, đá, cát, cấp phối… cần cho quá trình thi công là rất lớn. Trong khi đó, nguồn cung vật liệu tại chỗ đang đứng trước nhiều áp lực về công suất khai thác, giá cả, khoảng cách vận chuyển và thủ tục cấp phép.
Dự án cao tốc Vinh – Thanh Thủy là một trong những công trình tạo nhu cầu lớn nhất về vật liệu xây dựng tại Nghệ An trong giai đoạn hiện nay. Tuyến đường dài hơn 60 km, đi qua nhiều địa phương, kết nối TP. Vinh (cũ) với khu vực cửa khẩu Thanh Thủy và hành lang kinh tế Đông – Tây. Quy mô dự án kéo theo nhu cầu lớn về đất đắp nền đường, đá xây dựng, cát, cấp phối và vật liệu phục vụ các công trình cầu, hầm.
Các gói thầu của dự án đang được triển khai đồng loạt. Tại gói XL01, đoạn Km0+00 – Km6+300, nhà thầu đang tổ chức thi công nhiều hạng mục cùng lúc, trong đó có cầu, hầm và nền đường. Khi tiến độ dự án được đẩy nhanh, nhu cầu vật liệu cũng tăng theo.
Đáng chú ý, tại gói thầu XL03, liên danh nhà thầu mới đây đã có văn bản đề nghị cơ quan chức năng xem xét, cập nhật giá một số loại vật liệu xây dựng do giá khảo sát, công bố có thời điểm thấp hơn đáng kể so với thực tế thị trường. Động thái này cho thấy bài toán vật liệu không chỉ nằm ở nguồn cung, mà còn ở giá và khả năng tiếp cận nguồn cung.
Với các dự án giao thông quy mô lớn, chỉ cần giá vật liệu biến động hoặc nguồn cung không ổn định cũng có thể tác động trực tiếp đến chi phí thi công và hiệu quả của nhà thầu.
Trong khi đó, cao tốc Vinh – Thanh Thủy không phải dự án duy nhất đang tạo áp lực lên thị trường vật liệu. Tại khu vực Đông Bắc Nghệ An, dự án Nhà máy Nhiệt điện LNG Quỳnh Lập với tổng vốn hơn 2,2 tỷ USD, công suất 1.500 MW, đang được tỉnh thúc đẩy để hướng tới mục tiêu vận hành vào năm 2030. Cùng với đó là các dự án khu công nghiệp, nhà ở, khu đô thị và hạ tầng kỹ thuật đang được triển khai tại nhiều phường xã. Nhu cầu vật liệu vì thế có khả năng tăng mạnh trong thời gian tới, nhất là khi Nghệ An đang tiếp tục thu hút các dự án công nghiệp quy mô lớn.
Liên danh CTCP Tập đoàn Đèo Cả - CTCP Xây lắp Thương mại Delta đang tập trung triển khai thi công tại gói XL01, cao tốc Vinh - Thanh Thuỷ. Ảnh: Văn Dũng
Theo Báo cáo của UBND tỉnh Nghệ An, tính đến ngày 20/9, tỉnh này đã chấp thuận CTĐT/cấp GCNĐT cho 61 dự án, điều chỉnh 127 lượt dự án; tổng vốn đầu tư cấp mới và điều chỉnh 106.678 tỷ đồng, trong đó tổng nguồn vốn FDI đạt 2,47 tỷ USD. Dòng vốn này đang mở ra một chu kỳ phát triển mới, nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu lớn hơn đối với hệ thống hạ tầng và chuỗi cung ứng đầu vào.
Nếu nhiều đại dự án cùng triển khai trong một thời điểm, câu hỏi không còn là Nghệ An có tài nguyên hay không, mà là công suất khai thác và năng lực cung ứng thực tế có theo kịp nhu cầu hay không.
Bài toán giá và logisticsNghệ An có diện tích lớn và nguồn tài nguyên khoáng sản phục vụ xây dựng tương đối phong phú. Tuy nhiên, từ tài nguyên đến vật liệu có thể đưa vào công trình là một quá trình phụ thuộc vào nhiều yếu tố.
Một mỏ được cấp phép chưa đồng nghĩa với việc có thể cung cấp ngay một khối lượng lớn cho dự án. Công suất khai thác, hệ thống vận chuyển, khoảng cách từ mỏ đến công trường và khả năng đáp ứng trong từng thời điểm đều quyết định giá thành vật liệu đến chân công trình.
Đây là vấn đề đặc biệt đáng lưu ý với cao tốc Vinh – Thanh Thủy. Tuyến cao tốc trải dài qua nhiều địa bàn, trong khi nhu cầu vật liệu phân bổ theo từng gói thầu và từng giai đoạn thi công. Nếu nguồn cung nằm xa công trường, chi phí vận chuyển sẽ tăng, kéo theo giá thành vật liệu. Trong điều kiện nhiều công trình cùng triển khai, nhu cầu phương tiện vận tải cũng tăng theo. Chính vì vậy, việc bảo đảm nguồn vật liệu cho các đại dự án cần được tính toán ở quy mô toàn tỉnh thay vì chỉ giải quyết riêng lẻ từng dự án.
Sau chỉ đạo và kiểm tra thực tế tại các mỏ khoáng sản trong thời gian qua của UBND tỉnh Nghệ An khiến hàng loạt mỏ cát trên địa bàn tạm dừng, và không có dấu hiệu hoạt động. Ảnh: Văn Dũng
Trao đổi với Nhadautu.vn, ông Trần Đình Chiến, Giám đốc Ban điều hành CTCP Xây lắp Thương mại Delta (đơn vị thi công gói XL01, cao tốc Vinh – Thanh Thuỷ) chia sẻ, theo báo giá của các mỏ cung cấp cho đơn vị tư vấn làm cơ sở lập dự toán, mỏ đá Khe Dâu có hai loại đá, gồm đá loại II với giá 372.372 đồng/m³ và đá loại I với giá 410.000 đồng/m³, đều chưa bao gồm thuế VAT và là giá tại mỏ.
Tuy nhiên, theo đánh giá của đơn vị thi công, việc sử dụng mức giá đá loại II là hơn 372.372 đồng/m³ làm cơ sở tính toán cấp phối bê tông dầm là chưa phù hợp với yêu cầu thực tế.
Theo ông Chiến, bê tông dầm cầu đòi hỏi vật liệu có chất lượng cao, trong khi kết quả thí nghiệm vật liệu thực tế tại mỏ Khe Dâu cho thấy đá tại đây không đáp ứng yêu cầu để sử dụng làm cấp phối bê tông dầm.
Trong quá trình triển khai, do nguồn đá tại Khe Dâu không đáp ứng yêu cầu về chất lượng, nhà thầu phải chuyển sang sử dụng nguồn đá từ mỏ Đại Long, cách dự án khoảng 50 km. Điều này làm chi phí vật liệu thực tế cao hơn đáng kể so với mức giá được tính toán trong dự toán. Theo báo giá, đá tại mỏ Đại Long có giá khoảng 600.000 đồng/m³; khi tính cả chi phí vận chuyển, đơn giá đưa về công trường khoảng 747.200 đồng/m³.
"Thực tế này cho thấy có sự chênh lệch giữa giá vật liệu do các mỏ cung cấp cho cơ quan quản lý để làm cơ sở công bố giá với mức giá mà nhà thầu phải mua trong quá trình thi công. Sự chênh lệch này gây khó khăn cho chủ đầu tư trong việc kiểm soát chi phí đầu tư thực tế, đồng thời tạo áp lực đáng kể đối với nhà thầu", ông Chiến nói.
Cũng theo ông Chiến, đối với nguồn đá phục vụ đúc dầm, qua khảo sát và làm việc trực tiếp tại mỏ Khe Dâu - Hồng Vượng, chủ mỏ cho biết trữ lượng đá loại A hiện không còn đủ để cung cấp cho việc sản xuất đá cấp phối phục vụ thi công dầm. Nguồn đá còn lại chủ yếu là đá loại B, phù hợp với sản xuất bê tông mác thấp và khối lượng cũng không đáng kể.
Một nguồn cung khác là mỏ đá Cơn Tria, Kỳ Anh, Hà Tĩnh, cách dự án khoảng 125 km. Theo báo giá, đá tại mỏ có giá 318.000 đồng/tấn, tương đương khoảng 477.000 đồng/m³. Cộng thêm chi phí vận chuyển khoảng 230.000 đồng/m³, giá vật liệu đưa về đến công trường vào khoảng 707.000 đồng/m³.
"Qua thực tế triển khai, vấn đề đặt ra không chỉ là mức giá công bố mà còn là khả năng cung ứng thực tế, chất lượng vật liệu và khoảng cách vận chuyển đến công trường. Đây là những yếu tố cần được tính toán đầy đủ khi xác định giá vật liệu phục vụ các dự án có yêu cầu kỹ thuật cao như công trình cầu, đường", ông Chiến nói thêm.
Công ty CP Xây lắp 368 đang thi công cầu tại gói thầu XL02, cao tốc Vinh - Thanh Thuỷ. Ảnh: Văn Dũng
Lãnh đạo một doanh nghiệp xây dựng khác trên địa bàn cho rằng, Nghệ An cần rà soát tổng nhu cầu vật liệu theo từng nhóm dự án, xác định khả năng cung ứng của các mỏ đang hoạt động, những mỏ có thể nâng công suất và các khu vực có khả năng bổ sung nguồn cung. Một vấn đề khác cũng cần được quan tâm là giá vật liệu xây dựng.
Thực tế tại gói XL03 cao tốc Vinh – Thanh Thủy cho thấy khoảng cách giữa giá công bố và giá thị trường có thể tạo ra áp lực đáng kể đối với nhà thầu. Khi giá đầu vào tăng nhưng giá trong hồ sơ dự toán chưa được cập nhật kịp thời, chi phí thực tế của doanh nghiệp sẽ tăng. Với những hợp đồng có giá trị lớn, mức chênh lệch này có thể lên tới hàng tỷ, thậm chí hàng chục tỷ đồng.
Ở chiều ngược lại, nếu giá vật liệu được đẩy lên quá cao do nguồn cung hạn chế, tổng mức đầu tư của dự án cũng chịu áp lực. Do đó, bài toán vật liệu cần được nhìn từ cả ba phía: nguồn cung – giá thành – năng lực vận chuyển. Đây cũng là lý do việc chuẩn bị nguồn vật liệu cần đi trước một bước so với tiến độ các đại dự án.
Nếu không có sự chuẩn bị tương xứng, “cơn khát” vật liệu có thể trở thành một nút thắt mới đối với tiến độ các đại dự án, ngay trong lúc Nghệ An đang đứng trước cơ hội mở rộng không gian tăng trưởng.
Trong bối cảnh Nghệ An đang đặt mục tiêu tăng trưởng cao và tiếp tục thu hút các dự án công nghiệp, hạ tầng, việc chủ động nguồn vật liệu sẽ góp phần bảo đảm tiến độ đầu tư, hạn chế phát sinh chi phí và nâng cao khả năng hấp thụ dòng vốn mới.
Theo UBND tỉnh Nghệ An, trong 3 tháng cuối năm 2026, Nghệ An xác định sẽ tập trung đẩy nhanh tiến độ các công trình, dự án trọng điểm; quyết liệt tháo gỡ các vướng mắc về giải phóng mặt bằng, tái định cư, thủ tục đầu tư, đất đai, vật liệu và hạ tầng kỹ thuật; đẩy nhanh tiến độ thi công, giải ngân, bàn giao mặt bằng đến đâu tổ chức thi công ngay đến đó.
Bên cạnh đó, tập trung cao độ đối với Dự án đường bộ cao tốc Vinh - Thanh Thủy, Dự án LNG Quỳnh Lập, Dự án Cảng nước sâu, Dự án kéo dài đường cất hạ cánh Cảng hàng không quốc tế Vinh, các trường phổ thông nội trú liên cấp và các dự án hạ tầng khu kinh tế, khu công nghiệp… Đồng thời, tiếp tục chỉ đạo thực hiện nghiêm Kết luận số 165-KL/TU ngày 30/7/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường quản lý hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh.















