CỔNG THÔNG TIN VÀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ

Nghị quyết 05 - Cơ hội và chuyện định danh pháp lý tài sản mã hóa

Invest Global 08:10 07/04/2026

(KTSG) - Nếu luật pháp gọi chung là “tài sản mã hóa” hay “tài sản số” mà không phân biệt theo bản chất, quy định quản lý sẽ không thể phù hợp với sự đa

(KTSG) - Nếu luật pháp gọi chung là “tài sản mã hóa” hay “tài sản số” mà không phân biệt theo bản chất, quy định quản lý sẽ không thể phù hợp với sự đa dạng và phức tạp của thị trường.

Một trong những hệ thống quan trọng và có quyền năng bậc nhất được tạo ra trong 40 năm trở lại đây tại Việt Nam và tồn tại hơn 400 năm trên thế giới, để vượt qua vấn đề khan hiếm nguồn lực và quá trình tích lũy tư bản, chính là thị trường vốn.

Thí điểm sàn tài sản mã hóa: phép thử cơ chế giám sát và chuẩn vận hànhTài sản số và giới hạn của việc ‘làm chủ’

Tại Việt Nam, việc đủ mọi tầng lớp tham gia đầu tư đã bùng nổ trong suốt quá trình đất nước chuyển đổi cơ cấu từ nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ cùng với đô thị hóa. Bắt đầu bằng đầu tư vàng, bất động sản, cổ phiếu và trái phiếu, nay là bitcoin hay tài sản mã hóa (TSMH).

Thị trường phản ánh chúng ta chưa được hoàn thiện, còn thiếu sót nhưng luôn có thể cải thiện. Khi thị trường thất bại trong phân phối của cải, giải pháp là nghiên cứu, tìm hiểu để phát triển, mở rộng thị trường trong sự kiểm soát phù hợp, để quá trình làm giàu chính đáng được tiếp diễn một cách an toàn, đóng góp giá trị thiết thực cho quốc gia và xã hội.

Cơ hội mới cho thị trường tài chính Việt Nam

Nghị quyết 05/2025/NQ-TTg ngày 9-9-2025 (NQ05) về thí điểm sàn giao dịch TSMH là chính sách mà các tác giả đánh giá là một bước đi táo bạo của Chính phủ. NQ05 sẽ tạo cơ hội cho những nhà đầu tư (NĐT) nhỏ lẻ được tham gia thị trường TSMH an toàn, minh bạch; giúp doanh nghiệp tại Việt Nam tham gia sân chơi tài chính tiên tiến, tận dụng cơ hội để giải các bài toán hiện chưa có phương án khả thi.

Hàng trăm ngàn người Việt Nam không đủ điều kiện tham gia đầy đủ BHXH nhưng lại nằm trong nhóm chủ thể tham gia thị trường tiền mã hóa tích cực nhất, và mất rất nhiều tiền ở các sàn giao dịch quốc tế.

Thực tế ghi nhận được, hàng trăm ngàn người Việt Nam không đủ điều kiện tham gia đầy đủ BHXH nhưng lại nằm trong nhóm chủ thể tham gia thị trường tiền mã hóa tích cực nhất, và mất rất nhiều tiền ở các sàn giao dịch quốc tế. Đối với thị trường bất động sản, giá nhà thay đổi theo chiều hướng chỉ tăng, NĐT nhỏ khó có khả năng sở hữu hoặc mua một ngôi nhà hoàn chỉnh; không có sự bảo đảm khi tham gia các dự án huy động vốn trên thị trường quốc tế thông qua phát hành token lần đầu hoặc thứ cấp khi mua token trên các sàn giao dịch có rủi ro lừa đảo.

Nếu quyền sở hữu một bất động sản tại Việt Nam được chia nhỏ, chuyển thành 1.000 token, được tiếp cận bởi nhiều NĐT; hợp đồng thông minh được thiết kế để NĐT hưởng lợi từ sự tăng giá nhà, được bán token, và được hưởng thu nhập cố định từ khai thác? Nếu hàng ngàn ki lô mét hạ tầng cao tốc được xây dựng, hàng triệu phương tiện lưu thông trên các cao tốc đó, với số phí hàng ngàn tỉ đồng, được chuyển thành token để phát hành cho các NĐT và thông qua đó nhà thầu có thể huy động vốn tạm ứng thay cho ngân sách công?

Các NĐT này được đồng hưởng quyền thu phí đường bộ - một cơ chế huy động vốn ổn định lâu dài. Các nhà thầu được linh hoạt và công khai huy động vốn từ cộng đồng với cơ chế có kiểm soát để đảm bảo doanh thu; chính quyền địa phương đảm bảo tiến độ phát triển hạ tầng - đó sẽ là cơ hội mới và rất khả thi cho tất cả các bên. Những điều này không còn là viễn cảnh khi NQ05 được ban hành.

Định danh tài sản mã hóa - Tại sao cần ưu tiên bản chất?

Vấn đề cốt lõi đầu tiên là định danh pháp lý cho TSMH trong hệ thống pháp luật Việt Nam, sau đó là hệ thống phân loại. Một định nghĩa không đúng có thể dẫn đến tình trạng TSMH vừa bị xem là tiền tệ (theo Ngân hàng Nhà nước), hàng hóa (theo Bộ Tài chính) hoặc chứng khoán (theo UBCKNN).

Nỗ lực giải quyết vấn đề trên, Luật Công nghiệp - Công nghệ số 71/2025/QH15 ngày 14-6-2025 (Luật CNCNS 2025) định nghĩa TSMH “là một loại tài sản số sử dụng công nghệ mã hóa hoặc công nghệ số có chức năng tương tự để xác thực đối với tài sản trong quá trình tạo lập, phát hành, lưu trữ, chuyển giao” và đồng thời loại trừ “chứng khoán, các dạng số của tiền pháp định và các tài sản tài chính khác…”(1).

Theo các tác giả, định nghĩa này dừng lại ở mức khái quát, khi dẫn chiếu về Bộ luật Dân sự (BLDS), định nghĩa này bị vướng căn bản TSMH thuộc nhóm nào? BLDS 2015 xác định tài sản gồm “vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”(2). Khi đối chiếu các loại TSMH phổ biến trên thị trường với từng nhóm, không có nhóm nào phù hợp hoàn toàn:

Không phải “vật”: TSMH không có tính hữu hình. Ngoại lệ duy nhất là token đại diện cho quyền sở hữu tài sản thực (RWA token) - điều kiện tiên quyết tài sản cơ sở phải là tài sản thực.

Nếu luật pháp gọi chung là “TSMH” hay “tài sản số” mà không phân biệt theo bản chất, quy định quản lý sẽ không thể phù hợp với sự đa dạng và phức tạp của thị trường.

Không phải “giấy tờ có giá”: Giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành và người sở hữu trong một thời hạn nhất định, kèm điều kiện trả lãi và các điều kiện khác(3). Đặc tính này chỉ có thể áp dụng một phần cho token thanh toán (payment token), không phù hợp với đa số TSMH.

Gần với “quyền tài sản”: Quyền tài sản là “quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền SHTT, QSDĐ và các quyền tài sản khác”(4). Tuy không hoàn hảo, khái niệm này gần nhất với TSMH - trừ token thanh toán.

Vậy, dù Luật CNCNS 2025 tạo ra bước ngoặt, sự mơ hồ về định danh pháp lý vẫn tồn tại và sẽ cản trở việc xây dựng cơ chế quản lý. Nguyên nhân sâu xa nằm ở cách tiếp cận - coi TSMH là hàng hóa, chứng khoán hay phương tiện thanh toán - xuất phát từ hình thức mà không phản ánh bản chất kinh tế.

Thực tiễn thế giới cho thấy ít nhất bốn nhóm TSMH có bản chất khác biệt: (i). Token thanh toán (payment token): Tiền quốc gia được mã hóa (CBDC) hoặc phương tiện trao đổi kỹ thuật số - bản chất là tiền tệ; (ii). Token tiện ích (utility token): Cấp quyền truy cập dịch vụ hoặc nền tảng kỹ thuật số - bản chất là quyền sử dụng dịch vụ; (iii). Token chứng khoán (security token): Đại diện cho quyền tài chính như cổ tức, hoặc quyền biểu quyết - bản chất là chứng khoán; (iv). Token tài sản thực (RWA token): Token hóa BĐS, hạ tầng, hàng hóa vật lý - bản chất là quyền đối với tài sản hữu hình.

Nếu luật pháp gọi chung là “TSMH” hay “tài sản số” mà không phân biệt theo bản chất, quy định quản lý sẽ không thể phù hợp với sự đa dạng và phức tạp của thị trường.

Đề xuất

Từ phân tích nêu trên, nhóm tác giả đề xuất nghiên cứu áp dụng khái niệm “vật quyền dụng ích” trong pháp luật dân sự Trung Quốc, theo đó người có vật quyền dụng ích “hưởng quyền chiếm hữu, sử dụng và thu lợi theo luật đối với bất động sản hoặc động sản của người khác”(5). Vật quyền dụng ích thuộc vật quyền, là một loại quyền đối với tài sản. Cách tiếp cận này phản ánh chính xác bản chất của nhiều loại TSMH: người nắm giữ token không nhất thiết sở hữu tài sản cơ sở, nhưng có quyền hưởng dụng nhất định.

Pháp luật Việt Nam đã ghi nhận trong BLDS 2015 một số quyền có bản chất tương tự vật quyền dụng ích - quyền đối với bất động sản liền kề, quyền hưởng dụng, quyền bề mặt - với tên gọi chung là “quyền khác đối với tài sản”(6). Như vậy, pháp luật không cần thay đổi quá lớn mà cần khái quát hóa quy định có sẵn là có nền tảng pháp lý định danh TSMH.

Tiếp theo phân loại TSMH cần dựa trên “bản chất kinh tế”, thay vì cố đặt chúng vào các phân nhóm truyền thống. Bộ quy định Markets in Crypto-Assets (MiCA) của EU - bộ quy định toàn diện nhất về phân loại TSMH một cách có hệ thống rất đáng tham khảo. Quy định MiCA phân loại TSMH thành token tiện ích, stablecoin, token tài sản, kèm yêu cầu quản lý và bảo vệ NĐT tương ứng. MiCA phân loại token dựa trên bản chất kinh tế. Đây là hướng đi phù hợp để Việt Nam cân nhắc phân loại TSMH trong hệ thống pháp luật.

Bài viết này thể hiện quan điểm cá nhân của nhóm tác giả và không nhất thiết đồng nhất với quan điểm chính thức của đơn vị nơi nhóm tác giả công tác.

(*) Chuyên viên Pháp lý Cấp cao, Tập đoàn Vingroup - Công ty CP

(**) Phó chủ tịch Trung tâm Trọng tài Thương nhân Việt Nam (VTA)

(1) Điểm b khoản 2 điều 47 Luật CNCNS 2025

(2) Khoản 1 điều 105 BLDS 2015

(3) Khoản 8 Đđều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước 2010

(4) Điều 115 BLDS 2015

(5) Điều 323 Quyền II, BLDS Trung Quốc

(6) Điều 159 BLDS 2015