CỔNG THÔNG TIN VÀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ

Quản trị AI trên thế giới và tại Việt Nam

Invest Global 09:05 30/03/2026

(KTSG) - Bài viết này điểm qua mục tiêu, các tiêu chí nền tảng của quản trị trí tuệ nhân tạo (AI) mà các định chế quốc tế khuyến nghị, các mô hình quản

(KTSG) - Bài viết này điểm qua mục tiêu, các tiêu chí nền tảng của quản trị trí tuệ nhân tạo (AI) mà các định chế quốc tế khuyến nghị, các mô hình quản trị AI của Liên minh châu Âu và sáu quốc gia có tiềm lực và đang phát triển AI mạnh mẽ là Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản và Ấn Độ. Sau cùng là nhận xét về quản trị AI của Việt Nam.

Luật trí tuệ nhân tạo đang đối mặt với những thách thức nào?Kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo: Năng suất và ‘điểm kỳ dị’

Trong chưa đầy hai thập niên kể từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, AI đã có những phát triển vượt bậc, can dự ngày càng rộng và sâu vào mọi lĩnh vực, từ kinh tế, văn hóa, khoa học công nghệ, môi trường đến xã hội, an ninh quốc phòng. Với những tác động tích cực, tiêu cực và thách thức đan xen, AI đặt ra cho loài người nhiều bài toán chưa từng gặp liên quan đến phát triển và đạo đức xã hội(1). Trong bối cảnh đó, nhiều quốc gia, cộng đồng quốc gia đã ban hành những luật, chính sách để quản trị AI.

Mục tiêu và mô hình quản trị AI của các quốc gia

Mô hình quản trị AI (AI Governance Model) của một quốc gia hay một cộng đồng quốc gia là hệ thống nguyên tắc, quy trình và tiêu chuẩn nhằm đạt được mục tiêu đảm bảo AI được phát triển và sử dụng một cách minh bạch, an toàn, có trách nhiệm và phù hợp với pháp luật.

Không có một mô hình chung cho mọi quốc gia nhưng có những tiêu chí nền tảng mà một mô hình quản trị AI phải đáp ứng, được sự đồng thuận cao từ các nước.

Việt Nam lựa chọn kiến tạo thay vì kìm hãm, và chủ trương tích cực và chủ động hội nhập quốc tế, giữ vững độc lập, chủ quyền số trong lĩnh vục AI. Từ đó Việt Nam đã tạo được một vị thế tốt để góp phần đa cực hóa quản trị AI trên phạm vi toàn cầu, đưa phát triển AI vào quỹ đạo phục vụ con người.

Minh bạch và có thể giải thích (Transparency & Explainability): Hệ thống AI không được là một “hộp đen” (black box).

Công bằng và không thiên kiến (Fairness & Non-discrimination): Hệ thống AI không được phân biệt đối xử dựa trên chủng tộc, giới tính, tôn giáo hay địa vị xã hội.

An toàn và an ninh (Safety & Security): Hệ thống AI phải hoạt động ổn định, không gây hại cho con người (cả về thể chất lẫn tinh thần) và có khả năng chống lại các cuộc tấn công mạng.

Trách nhiệm giải trình (Accountability): Phải xác định được ai là người chịu trách nhiệm khi AI mắc lỗi. Mô hình phải quy định rõ điều này (thường yêu cầu sự giám sát của con người - Human in the loop).

Quyền riêng tư và quản trị dữ liệu (Privacy & Data Governance): Dữ liệu dùng để dạy AI phải hợp pháp, bảo mật và tôn trọng quyền riêng tư của người dùng.

Cho tới nay không có một định chế quốc tế nào được ủy nhiệm phụ trách về quản trị AI. Tuy nhiên, OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế) đã ban hành Nguyên tắc AI (OECD AI Principles) năm 2019, được xem là kim chỉ nam cho chính sách AI của hơn 40 quốc gia (bao gồm cả các nước G20). UNESCO đã ban hành Khuyến nghị về đạo đức trong AI (Recommendation on the Ethics of Artificial Intelligence) được phiên họp lần thứ 41 của Đại hội đồng UNESCO (tháng 11-2021) thông qua. Văn bản này mang tính định hướng đạo đức toàn cầu. NIST (National Institute of Standards and Technology, Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ quốc gia, Mỹ) đã ban hành Khung Quản lý rủi ro AI (AI Risk Management Framework, AI RMF 1.0) ngày 26-1-2023 mang tính kỹ thuật và thực thi, giúp biết chính xác cần làm gì để giảm thiểu rủi ro. Ngoài ra còn có Đạo luật AI (EU AI Act), bộ luật toàn diện đầu tiên trên thế giới, được Liên minh châu Âu (EU) ban hành tháng 7-2024, có hiệu lực tháng 8-2024.

Hiện trạng quản trị AI của các quốc gia trên thế giới

Mỗi quốc gia có triết lý và mục tiêu riêng dựa trên thế mạnh và thể chế chính trị của mình để quản trị AI. Bảng dưới đây đối chiếu mô hình quản trị AI của một số nước có tiềm năng về AI mà tác giả đã tập hợp từ ý kiến của SmartGPT-5, Gemini 3 Pro và DeepSeek, trên cùng 16 tiêu chí, ở thời điểm tháng 2-2026.

Các mô hình quản trị rất khác biệt nhau do bị chi phối bởi lợi ích quốc gia, lợi ích của các tập đoàn công nghệ số, bởi ý thức hệ. Mặt khác việc quy chế hóa các tiêu chí đòi hỏi thời gian trong khi các AI (tác nhân, điều phối đa tác nhân và vật lý) đang phát triển rất nhanh. Khác biệt và lệch pha về thời gian là những khe hở qua đó các tác động tiêu cực và các thách thức có thể gây tổn hại cho nhân loại.

Về quản trị AI của Việt Nam

Có thể nhận xét ngay là Việt Nam đã sớm (ngay sau khi những AI tạo sinh đầu tiên ra đời) và chủ động pháp điển hóa việc quản trị AI. Chiến lược quốc gia về AI đến năm 2030 được ban hành năm 2021. Chiến lược dữ liệu quốc gia (xác lập nguyên tắc phân loại, chia sẻ và bảo vệ dữ liệu số, định hình rõ “chủ quyền dữ liệu”) được ban hành năm 2024; Luật Công nghiệp công nghệ số (tạo hành lang pháp lý cho các lĩnh vực mới như AI, tài sản số (digital assets), cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) cho các công nghệ mới) ngày 14-6-2025, có hiệu lực từ ngày 1-3-2026; Luật AI ngày 10-12-2025, có hiệu lực từ ngày 1-3-2026.

Việt Nam chọn phát triển AI vì AI là một tiến bộ khoa học công nghệ của nhân loại, phải nắm bắt để đất nước đi ngay vào hiện đại với nhận thức rõ các thách thức; chấp nhận rủi ro; qua đó có được những “kháng thể”, đó là chủ quyền dữ liệu và phát triển AI bản địa; đã xây dựng hai luật bổ túc cho nhau là Luật Công nghiệp công nghệ số và Luật AI được ví như là lá chắn và thanh kiếm; đã hợp nhất hai bộ Khoa học và Công nghệ và Thông tin và Truyền thông thành Bộ Khoa học và Công nghệ, cho phép tập trung việc quản trị AI vào một đầu mối; kế thừa các quy định của OECD, UNESCO, UNDP, NIST và bộ luật AI của EU và kinh nghiệm chắt lọc từ các nước; nhận thấy sự bức thiết của việc chuyển đổi số nhanh và có chất lượng (qua Nghị quyết 57/NQ-TW của Bộ Chính trị).

Tất cả thể hiện sự lựa chọn kiến tạo thay vì kìm hãm, và chủ trương tích cực và chủ động hội nhập quốc tế, giữ vững độc lập, chủ quyền số trong lĩnh vục AI. Từ đó Việt Nam đã tạo được một vị thế tốt để góp phần đa cực hóa quản trị AI trên phạm vi toàn cầu, đưa phát triển AI vào quỹ đạo phục vụ con người.

Bảng 2 chi tiết hóa sự quản trị AI hiện nay của Việt Nam.

Tác giả rất muốn biết Gemini 3 Pro, SmartGPT-5 và DeepSeek nhận định ra sao về hai tiêu chí (bảng 3) của quản trị AI của Việt Nam ở thời điểm tháng 3-2026.

Chúng ta hãy cùng xem bảng 3.

Lời cuối bài

Trước viễn cảnh trong một thời gian không xa, tính bằng năm, loài người sẽ sống cùng với những AI vật lý hình người, tác giả cho rằng một Hiến chương toàn cầu về quản trị AI là cần thiết, với một cơ chế thanh tra và giám sát các trung tâm dữ liệu khổng lồ hoặc các nhà máy sản xuất robot hình người, và một văn bản cam kết trách nhiệm của các quốc gia (kiểu như Hiệp định Paris - COP21 năm 2015 về biến đổi khí hậu).

AlphaFold 2 và AlphaFold 3 của DeepMind đã đạt được những kỳ tích trong lĩnh vực công nghệ sinh học với tốc độ không thể tin nổi nếu chưa phải là hiện thực. Một câu hỏi đặt cho các tập đoàn công nghệ số AI: Có thể xây dựng được hay không một AI thu hẹp hố ngăn cách giàu nghèo trong mỗi quốc gia và giữa các quốc gia? Nếu không thì vì lý do gì? Nếu có, tác giả tin chắc rằng giải pháp mà AI đó đưa ra là: “Vì sự tồn vong của chính mình, con người cần “học” (learning) lại cách ứng xử thích hợp (adequate) với thiên nhiên và đồng loại”.

(*) Nguyên Phó hiệu trưởng trường Đại học Tổng hợp TPHCM, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học kỹ thuật Nhà nước, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội, đại biểu Quốc hội khóa IX, X, XI.(1) Nguyễn Ngọc Trân, AI và tương lai xã hội loài người, KinhteSaigon, 12-3-20226, trang 54-56. hoặc https://thesaigontimes.vn/ai-va-tuong-lai-xa-hoi-loai-nguoi/?zarsrc=30&utm_source=zalo&utm_medium=zalo&utm_campaign=zalo(2) Sandbox là một cơ chế pháp lý thử nghiệm có kiểm soát, cho phép doanh nghiệp hoặc tổ chức triển khai sản phẩm, dịch vụ, hay mô hình kinh doanh mới trong phạm vi giới hạn và dưới sự giám sát của nhà nước. Ý nghĩa chính là tạo không gian đổi mới sáng tạo nhưng vẫn đảm bảo an toàn, quản lý rủi ro và bảo vệ lợi ích công cộng.

Môi trường kinh doanh