CỔNG THÔNG TIN VÀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ

Thu hút FDI xanh và công nghệ cao, tạo đà tăng trưởng bền vững

Invest Global 11:09 29/05/2026

Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, TS. Trần Toàn Thắng - Trưởng ban Ban Quốc tế và chính sách hội nhập, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) nhấn mạnh, Việt Nam cần thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào công nghệ cao, dự án xanh, để tạo đà cho tăng trưởng bền vững trong thời gian tới.

PV: Trong bối cảnh chuyển đổi xanh toàn cầu, theo ông, đâu là lợi thế của Việt Nam trong việc thu hút dòng vốn FDI vào công nghệ cao và dự án xanh?

Thu hút FDI xanh và công nghệ cao, tạo đà tăng trưởng bền vững TS. Trần Toàn Thắng

TS. Trần Toàn Thắng: Tôi cho rằng, Việt Nam trong giai đoạn này đang có lợi thế về thu hút FDI công nghệ cao và các dự án xanh. Trước hết, xu hướng tái cấu trúc toàn cầu đang diễn ra mạnh mẽ và trong xu hướng đấy thì Việt Nam được đánh giá là một trong những điểm đến của dòng vốn FDI, cùng đó là lợi thế về nguồn nhân lực, địa lý và chuỗi cung ứng cũng bắt đầu hình thành.

Với các dự án FDI công nghệ cao và xanh thì lợi thế thứ nhất là Việt Nam ổn định vĩ mô, các chủ trương và định hướng của Chính phủ đang đồng hành và thu hút FDI công nghệ cao và dự án xanh. Qua đó, thúc đẩy các giải pháp xúc tiến và khuyến khích đầu tư tốt hơn cho hai khu vực này. Lợi thế thứ hai là mạng lưới FTA của Việt Nam bao phủ các địa bàn trọng điểm toàn cầu. Vì vậy, lợi thế kinh doanh và chi phí sau đầu tư rẻ hơn và thâm nhập vào thị trường quốc tế tốt hơn nếu FDI đi vào hướng đầu tư cho xuất khẩu. Đây là lợi thế mà một số nước ASEAN, thậm chí cả Trung Quốc cũng không có được. Lợi thế thứ ba là Việt Nam đang ở trạng thái đẩy mạnh kết nối toàn cầu thông qua các hành lang kinh tế, cũng như xây dựng các hạ tầng phục vụ cho kết nối rất tốt.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đang manh nha hình thành năng lực sản xuất và cung ứng phục vụ cho dự án FDI xanh. Ví như, liên quan đến FDI công nghệ cao, trước đây là câu chuyện doanh nghiệp chủ yếu lắp ráp xuất khẩu, nhưng giờ đây đã đầu tư vào phân khúc cao hơn của chuỗi cung ứng, hình thành các trung tâm sản xuất công nghệ cao ở phía Bắc và vùng Đông Nam Bộ. Đây là lợi thế quan trọng để tiếp tục đón nhận FDI công nghệ cao và xanh thời gian tới…

Thu hút FDI xanh và công nghệ cao, tạo đà tăng trưởng bền vững Việt Nam đang có lợi thế về thu hút FDI công nghệ cao và các dự án xanh. (trong ảnh: Nhà máy Intel tại khu công nghệ cao Hồ Chí Minh). Ảnh: Lê Toàn

PV: Bên cạnh lợi thế, yêu cầu tiêu chuẩn ESG và chuỗi cung ứng xanh đang ảnh hưởng như thế nào tới quyết định đầu tư của doanh nghiệp FDI, thưa ông?

TS. Trần Toàn Thắng: Nếu nhìn vào ngắn hạn thì đây rõ ràng là một phần tăng chi phí cho doanh nghiệp, nhưng yêu cầu về ESG và chuỗi cung ứng xanh đang chuyển dần sang hướng bắt buộc để đáp ứng tiêu chuẩn xanh của các thị trường, đặc biệt là thị trường châu Âu. Do vậy, trong ngắn hạn sẽ tương đối khó khăn với các doanh nghiệp mới đầu tư, trong dài hạn thì đương nhiên tạo ra được năng lực cạnh tranh thông qua chuyển đổi xanh biến thành lợi thế.

Thực ra, nếu nhìn ở góc độ rào cản, các dự án xanh tuân thủ ESG, thì nhìn từ trong nước có thể thấy, hiện hệ thống năng lượng Việt Nam chưa đảm bảo được hàm lượng năng lượng xanh trong các sản phẩm xuất khẩu. Kể cả về phần cung ứng lẫn chuỗi truyền tải năng lượng, đây đang là những điểm nghẽn cần phải đầu tư rất lớn để chuyển từ năng lượng nhiệt điện sang năng lượng điện gió và điện mặt trời.

Hỗ trợ doanh nghiệp Việt tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu

TS. Trần Toàn Thắng cho rằng, nếu FDI xanh và công nghệ cao vào Việt Nam nhưng doanh nghiệp nội địa không tham gia được chuỗi cung ứng, giá trị giữ lại sẽ hạn chế. Do đó, cần hỗ trợ phát triển công nghiệp hỗ trợ, đổi mới công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực… để doanh nghiệp Việt đủ năng lực tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Còn về quản trị, cấu trúc quản trị doanh nghiệp hiện nay của Việt Nam nằm trong chuỗi cung ứng chưa phải là thế mạnh. Việt Nam cần phải thay đổi và minh bạch hóa các quan hệ sở hữu vốn trong quản trị. Về mặt xã hội cũng vậy, lực lượng lao động kỹ năng cao vẫn hạn chế để đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp FDI công nghệ cao, hoặc nhu cầu chuyển đổi xanh, do vậy cũng cần quan tâm đầu tư nâng cao nguồn nhân lực.

Ngoài ra, hệ thống đo đạc MRV về phát thải thì đang ở mức mới bắt đầu, mặc dù vấn đề này cũng đã đặt ra trong chiến lược tăng trưởng xanh trước đây và đã bàn sửa đổi. Nhưng cho đến nay thì đây vẫn là một điểm nghẽn vì chúng ta thiếu con người, chuyên gia và hệ thống đo đạc để tìm ra được mức độ xanh và đưa ra được phân tích nhu cầu chuyển đổi xanh ở các doanh nghiệp FDI hoặc doanh nghiệp phục vụ chuỗi cung ứng cho doanh nghiệp FDI thì đang thiếu hạ tầng đó.

Có thể nói, mục tiêu thu hút FDI công nghệ cao và xanh vẫn đặt ra và đi kèm với các biện pháp khuyến khích. Do đó, trong ngắn hạn và trung hạn, Việt Nam vẫn tiếp tục tiếp nhận các dòng vốn đầu tư khác, FDI khác để đảm bảo được mục tiêu vốn cho nhu cầu tăng trưởng cao, cũng như tạo được việc làm.

PV: Theo ông, Việt Nam cần ưu tiên những gì để thu hút FDI xanh, công nghệ cao, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu để tạo động lực tăng trưởng xanh trong thời gian tới?

TS. Trần Toàn Thắng: Theo tôi, ưu tiên của Việt Nam trong thời gian tới là phải xây dựng được hạ tầng để phục vụ cho FDI công nghệ cao và xanh. Hạ tầng năng lượng đương nhiên phải thay đổi, bởi vì có những dự án FDI công nghệ cao dưới dạng các trung tâm dữ liệu hoặc các dòng FDI tiêu tốn năng lượng.

Theo đó, phải nâng cấp hạ tầng năng lượng vì nhà đầu tư chất lượng cao cần điện ổn định, giá cạnh tranh, tỷ lệ năng lượng sạch ngày càng cao và khả năng chứng minh nguồn điện xanh. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải chuẩn bị được nhu cầu năng lượng xanh hoặc tạo ra được một cơ chế để mua bán điện giữa nhà sản xuất với những người tiêu dùng trực minh bạch hơn, để nhà sản xuất có thể đảm bảo được năng lượng cho dòng FDI công nghệ cao này.

Đồng thời, phải phát triển tài chính xanh. Chuyển đổi năng lượng cần nguồn lực rất lớn, ngân sách nhà nước không thể làm tất cả. Cần huy động vốn tư nhân, vốn quốc tế, tín dụng xanh, trái phiếu xanh và các công cụ tài chính mới...

Cùng với đó, hạ tầng chung cho các chuỗi cung ứng ở dòng FDI này và hạ tầng để chuyển đổi xanh giúp các doanh nghiệp kiểm soát mức độ phát thải và đảm bảo được các tiêu chuẩn về ESG. Cái quan trọng nhất vẫn là minh bạch thông tin và tái cơ cấu sở hữu. Cần minh bạch hóa sở hữu quản trị của các doanh nghiệp cung ứng Việt Nam, đây là việc cần phải làm trong ngắn hạn và trung hạn.

Tôi cho rằng, trong trung hạn cần thêm một biện pháp rất lớn là chuyển đổi trong các chương trình đào tạo để có được những lao động công nghệ cao đáp ứng cho các trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) hoặc các chuỗi sản xuất công nghệ cao, thậm chí tái đào tạo lại lực lượng lao động hiện có.

Còn dài hạn hơn thì phải thay đổi cơ bản về chính sách công nghiệp. Trong đó phải tạo ra được hệ sinh thái hỗ trợ các doanh nghiệp tư nhân, để họ tham gia được vào các chuỗi cung ứng lớn toàn cầu.

PV: Xin cảm ơn ông!

Ý kiến chuyên gia