CỔNG THÔNG TIN VÀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
Nghị định 387/2026/NĐ-CP quy định cơ chế thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân ...
Tại hội nghị, Bộ trưởng Bộ Tài chính cũng nhấn mạnh, việc hợp nhất 4 Chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG) không có nghĩa là bắt đầu lại các chính sách từ đầu. Trọng tâm là thống nhất khuôn khổ quản lý, giảm trùng lặp, phân định rõ trách nhiệm và chuyển từ quản lý đầu vào sang đánh giá bằng sản phẩm, kết quả thực hiện.
Rà soát nhiệm vụ chuyển tiếp, chuẩn bị triển khai từ năm 2027Để cơ chế mới sớm chuyển thành kết quả thực tế, một trong những nhiệm vụ cấp bách được Bộ trưởng Bộ Tài chính nhấn mạnh là rà soát, phân loại các nhiệm vụ, dự án, kế hoạch vốn, dự toán, hợp đồng và đối tượng thụ hưởng để chuyển tiếp sang cơ chế mới.
Cụ thể, trong thời hạn 90 ngày làm việc kể từ ngày Nghị định số 387/2026/NĐ-CP của Chính phủ (NĐ 378) quy định nội dung, cơ chế, chính sách thực hiện CTMTQG phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 có hiệu lực, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương phải rà soát nội dung chuyển tiếp, xác định nhiệm vụ cần điều chỉnh, bảo đảm việc triển khai không bị gián đoạn. Các địa phương đồng thời rà soát văn bản đã ban hành để sửa đổi, thay thế hoặc bãi bỏ quy định không còn phù hợp.
Bộ trưởng yêu cầu địa phương chủ động chuẩn bị danh mục nhiệm vụ, thứ tự ưu tiên và nhu cầu kinh phí năm 2027. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh cần kịp thời ban hành nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ và mức vốn đối ứng theo quy định. Những nhiệm vụ chưa rõ đối tượng, khối lượng hoặc khó có khả năng hoàn thành cần được rà soát trước khi đưa vào kế hoạch.
Triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 - 2035, Bộ trưởng Bộ Tài chính yêu cầu không chờ hướng dẫn. Ảnh TL minh họa
Đối với nhiệm vụ, dự án, hợp đồng và đối tượng thụ hưởng đã được phê duyệt trong năm 2026 trước ngày NĐ378 có hiệu lực, việc thực hiện tiếp tục theo cơ chế cũ đến khi hoàn thành. Kế hoạch, dự toán năm 2027 được lập, phân bổ và giao từ trung ương về địa phương theo cơ chế của các chương trình trước hợp nhất; sau khi được giao, việc quản lý và sử dụng thực hiện theo NĐ387.
Bộ trưởng nhấn mạnh, khi cơ chế và thẩm quyền đã rõ, các cơ quan, địa phương cần chủ động quyết định, không chờ hướng dẫn. Người đứng đầu phải gắn trách nhiệm với tiến độ, kết quả giải ngân và hiệu quả thực hiện. Với vướng mắc vượt thẩm quyền, cơ quan liên quan cần báo cáo kèm phương án xử lý cụ thể, tránh kéo dài việc xin ý kiến hoặc chuyển trách nhiệm giữa các đơn vị.
Phân cấp mạnh hơn, sử dụng nguồn lực đúng mục tiêuNĐ387 sắp xếp nội dung của 4 CTMTQG trước đây thành 7 nhóm: quy hoạch, hạ tầng và nâng cao chất lượng nông thôn; giảm nghèo, phát triển kinh tế nông thôn, sinh kế và việc làm; giáo dục, đào tạo và nguồn nhân lực; y tế, dân số và phát triển; bảo tồn, phát triển văn hóa; chính sách đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; cơ sở dữ liệu dùng chung, giám sát, đánh giá và truyền thông.
Các mục tiêu, chính sách, đối tượng thụ hưởng và định hướng đầu tư đã được phê duyệt tiếp tục được kế thừa. Việc hợp nhất nhằm thống nhất tổ chức thực hiện, khắc phục tình trạng nội dung tương đồng bị phân tán ở nhiều chương trình, không tự tạo ra chính sách mới hoặc mở rộng đối tượng thụ hưởng.
Theo cơ chế mới, cấp trung ương tập trung xây dựng khuôn khổ, tiêu chuẩn, tiêu chí, hướng dẫn chuyên môn, điều phối và giám sát. Cấp địa phương chủ động lựa chọn danh mục, thứ tự ưu tiên, phân bổ và tổ chức thực hiện trong phạm vi thẩm quyền, đồng thời chịu trách nhiệm về tiến độ và kết quả.
Nguyên tắc quản lý là “một nội dung, mục tiêu, chỉ tiêu chỉ giao một cơ quan chủ trì chịu trách nhiệm chính”. Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện vai trò điều phối, không tạo thêm tầng phê duyệt. Các bộ quản lý ngành chịu trách nhiệm về mục tiêu, chỉ tiêu và kết quả thuộc lĩnh vực được giao; địa phương chịu trách nhiệm về danh mục nhiệm vụ, tiến độ, giải ngân và kết quả trên địa bàn.
Trong tổng nguồn lực 808.558 tỷ đồng của giai đoạn 2026 - 2030, ngân sách trung ương là 345.000 tỷ đồng, gồm 244.200 tỷ đồng vốn đầu tư công và 100.800 tỷ đồng kinh phí thường xuyên. Ngoài ngân sách nhà nước, Chương trình còn huy động tín dụng chính sách xã hội, nguồn lực của doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức, cá nhân và các nguồn hợp pháp khác.
Việc phân bổ ngân sách trung ương căn cứ vào mục tiêu, nhiệm vụ, quy mô đối tượng thụ hưởng, mức độ khó khăn và khoảng thiếu hụt dịch vụ cơ bản của từng địa bàn. Mức trần nguồn lực 5 năm là căn cứ xây dựng kế hoạch, không đồng nghĩa toàn bộ số vốn mặc nhiên được phân bổ hằng năm. Phân bổ hàng năm còn phụ thuộc khả năng cân đối ngân sách, nhu cầu vốn, tiến độ thực hiện, kết quả giải ngân và năng lực sử dụng vốn.
Nghị định yêu cầu sử dụng ngân sách đúng mục tiêu, đúng đối tượng, đúng nội dung, không bố trí, thanh toán, quyết toán trùng lặp. Ngân sách trung ương của Chương trình không được dùng chi trả tiền lương, phụ cấp, chi hoạt động bộ máy, nhiệm vụ quản lý nhà nước và các nhiệm vụ thường xuyên thuộc trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, trừ trường hợp được quy định cụ thể.
Đối với dự án đầu tư xây dựng quy mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản, thực hiện trên địa bàn một xã, UBND cấp xã được giao quản lý theo quy định. Ngân sách nhà nước có thể hỗ trợ tối đa 100% tổng mức đầu tư đối với dự án tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, địa bàn đặc biệt khó khăn. Dự án có tổng mức đầu tư dưới 500 triệu đồng có thể giao cộng đồng dân cư thực hiện thông qua Ban phát triển thôn.
Với hỗ trợ phát triển sản xuất theo cơ chế giao nhiệm vụ, tối thiểu 70% kinh phí hỗ trợ phải trực tiếp đến người dân. Các cơ chế này nhằm tăng tính chủ động tại cơ sở, đồng thời yêu cầu địa phương bảo đảm đúng đối tượng, mục tiêu và quy định sử dụng nguồn lực.
Không chỉ đánh giá bằng tỷ lệ giải ngânBộ trưởng Bộ Tài chính nhấn mạnh, Chương trình cần chuyển từ cách quản lý thiên về đầu vào, thủ tục sang quản lý theo sản phẩm và kết quả. Tỷ lệ giải ngân vẫn quan trọng, nhưng không thể thay thế việc đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu và những cải thiện thực tế đối với người dân.
Để phục vụ đánh giá, Chương trình sẽ xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, kết nối thông tin về mục tiêu, chỉ tiêu, nguồn lực, đối tượng thụ hưởng, sản phẩm và kết quả. Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì hoàn thiện cơ sở dữ liệu của Chương trình; Bộ Tài chính hoàn thiện phân hệ dữ liệu ngân sách để theo dõi tình hình phân bổ, giải ngân.
Trước ngày 31/12/2026, các bộ quản lý ngành phải ban hành bộ chỉ số đo lường các chỉ tiêu thành phần thuộc lĩnh vực được giao, xác định phương pháp tính, nguồn dữ liệu và cơ quan xác nhận. Các bộ, ngành và địa phương phải cập nhật dữ liệu đầy đủ, chính xác, kịp thời, phục vụ theo dõi tiến độ và cảnh báo nhiệm vụ chậm triển khai hoặc có kết quả thấp.
Bộ trưởng cũng yêu cầu các bộ quản lý ngành rà soát tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và định mức kinh tế - kỹ thuật; tiếp tục áp dụng quy định hiện hành còn phù hợp, tập trung xử lý những nội dung thực sự còn thiếu. Tài liệu hướng dẫn, sổ tay điện tử chỉ nhằm làm rõ cách thực hiện, không được đặt thêm thủ tục, hồ sơ hoặc yêu cầu xin ý kiến ngoài quy định.
Đặc biệt, Bộ trưởng Bộ Tài chính nhấn mạnh yêu cầu không chờ đợi khi cơ chế, thẩm quyền đã rõ, không đùn đẩy trách nhiệm và không đánh giá Chương trình chỉ bằng tỷ lệ giải ngân. Các cơ quan, địa phương cần chủ động tổ chức thực hiện, đồng thời bảo đảm kỷ luật tài chính và trách nhiệm giải trình đối với kết quả đạt được.
Sau Hội nghị này, Bộ Tài chính sẽ báo cáo Thủ tướng Chính phủ, tham mưu ban hành Chỉ thị về tăng cường thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong triển khai Chương trình, tập trung vào xử lý nhiệm vụ chuyển tiếp, hoàn thiện cơ sở dữ liệu, công cụ đánh giá và tháo gỡ vướng mắc.
















