CỔNG THÔNG TIN VÀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
Tại hội thảo “40 năm Đổi mới: Phát triển tập đoàn kinh tế Việt Nam” do Tạp chí Nhà đầu tư tổ chức, bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, nhấn mạnh rằng hệ thống ngân hàng sẽ tiếp tục đáp ứng nhu cầu vốn cho tăng trưởng. Tuy nhiên, về dài hạn, nền kinh tế không thể phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng nếu muốn phát triển bền vững.
Theo bà Tùng, một trong những điều kiện sống còn để hình thành các tập đoàn có khả năng dẫn dắt nền kinh tế là nguồn vốn trung và dài hạn đủ lớn, ổn định và được phân bổ hiệu quả. Trong khi đó, cấu trúc vốn hiện nay của Việt Nam vẫn dựa chủ yếu vào tín dụng ngân hàng, vốn mang tính chất ngắn và trung hạn, tạo ra sự lệch pha với nhu cầu đầu tư dài hạn của doanh nghiệp.
Thực tế cho thấy, hệ thống ngân hàng thời gian qua đã tích cực hoàn thiện khung pháp lý nhằm vừa cung ứng vốn cho tăng trưởng, vừa bảo đảm an toàn hệ thống. Việc ban hành Luật Các tổ chức tín dụng 2024 cùng quá trình sửa đổi, bổ sung trong năm 2025 đã làm rõ hơn các nghiệp vụ cấp tín dụng, đồng thời mở ra những hình thức cấp vốn mới như cấp tín dụng qua phương tiện điện tử hay các khoản vay nhỏ với thủ tục đơn giản hơn.
Bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Ảnh: A Huy.
Bên cạnh đó, các quy định về tỷ lệ an toàn, giới hạn cấp tín dụng và kiểm soát nội bộ cũng được hoàn thiện, giúp hệ thống ngân hàng có thể mở rộng tín dụng nhưng vẫn kiểm soát tốt rủi ro. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh nhu cầu vốn của nền kinh tế đang tăng nhanh.
Dòng vốn ngân hàng hiện nay cũng đang được phân bổ tương đối cân bằng giữa các khu vực kinh tế. Đến cuối năm 2024, tổng dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 18,17 triệu tỷ đồng, tăng hơn 19% so với năm trước. Trong đó, tín dụng cho doanh nghiệp chiếm khoảng 48%, còn tín dụng cho cá nhân, hộ gia đình và hộ kinh doanh chiếm khoảng 46%.
Ngoài ra, các lĩnh vực ưu tiên cũng có tỷ trọng đáng kể, như nông nghiệp và nông thôn chiếm khoảng 23%, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 20%. Những con số này cho thấy tín dụng ngân hàng không chỉ tập trung vào các tập đoàn lớn mà đang lan tỏa tới nhiều khu vực của nền kinh tế.
Tuy nhiên, một dấu hiệu đáng chú ý là tốc độ tăng trưởng tín dụng hiện đang cao hơn tốc độ huy động vốn. Cuối năm 2024, tín dụng tăng 19,07% trong khi huy động vốn chỉ tăng khoảng 14,5%. Đến cuối quý I năm nay, tín dụng tăng khoảng 2,45% nhưng huy động mới chỉ đạt khoảng 0,31%.
Khoảng chênh lệch này tạo áp lực thanh khoản cho hệ thống ngân hàng và cho thấy mô hình tăng trưởng phụ thuộc vào tín dụng đang bộc lộ những rủi ro tiềm ẩn. Nếu xu hướng này kéo dài, hệ thống tài chính có thể đối mặt với những biến động lớn trong tương lai.
Vì vậy, cùng với tín dụng ngân hàng, Việt Nam cần đẩy mạnh phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp, các quỹ đầu tư và những mô hình huy động vốn linh hoạt hơn.
Cân bằng vốn nợ và vốn chủ sở hữu để mở rộng nguồn lực tăng trưởngBà Nguyễn Thúy Hạnh, Tổng Giám đốc Standard Chartered Việt Nam, cho rằng Việt Nam cần thiết kế lại cấu trúc nguồn lực theo hướng cân bằng giữa vốn chủ sở hữu và vốn nợ.
Theo bà Hạnh, nhu cầu vốn cho giai đoạn 2026–2030 được ước tính khoảng 38 triệu tỷ đồng, trong khi nguồn từ khu vực Nhà nước chỉ chiếm khoảng 8,5 triệu tỷ đồng. Điều này đồng nghĩa phần lớn nguồn lực sẽ phải huy động từ khu vực tư nhân, thị trường vốn và dòng vốn quốc tế.
Với vốn chủ sở hữu, một giải pháp quan trọng là tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hóa và thoái vốn Nhà nước, đồng thời thúc đẩy tái cấu trúc doanh nghiệp gắn với thị trường chứng khoán. Đây không chỉ là nguồn vốn chất lượng mà còn giúp nâng cao chuẩn mực quản trị doanh nghiệp.
Bà Nguyễn Thúy Hạnh, Tổng Giám đốc Standard Chartered Việt Nam, cho rằng Việt Nam. Ảnh: A Huy.
Bên cạnh đó, Việt Nam cần thu hút mạnh hơn dòng vốn FDI thông qua các thương vụ private equity, hướng tới các nhà đầu tư dài hạn có khả năng đồng hành chiến lược với doanh nghiệp Việt Nam. Khi thị trường chứng khoán được nâng hạng, dòng vốn đầu tư quốc tế cũng sẽ có thêm dư địa để gia tăng.
Một nguồn lực quan trọng khác là vốn trong dân cư. Hiện nay, một lượng lớn tài sản vẫn đang nằm trong vàng hoặc các kênh tiết kiệm chưa được đưa vào sản xuất kinh doanh. Nếu khơi thông hiệu quả nguồn lực này, khu vực kinh tế tư nhân sẽ có thêm dư địa phát triển đáng kể.
Ở phía vốn nợ, bà Hạnh cho rằng cấu trúc hiện nay vẫn còn mất cân đối khi khoảng 80% là vốn ngắn hạn, trong khi nhu cầu của nền kinh tế đòi hỏi vốn trung và dài hạn lớn hơn. Vì vậy, việc phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp và mở rộng nền nhà đầu tư tổ chức là yếu tố quan trọng để tạo nguồn vốn dài hạn ổn định.
Một hướng đi khác là phát triển tài trợ chuỗi, giúp kết nối nguồn vốn từ ngân hàng, doanh nghiệp và dòng tiền trong dân cư vào các hệ sinh thái sản xuất kinh doanh. Đây được xem là mô hình phù hợp với quá trình hình thành các tập đoàn kinh tế lớn tại Việt Nam.
Đánh giá về thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN), ông Nguyễn Quang Thuân, Chủ tịch FiinGroup, cho rằng điểm nghẽn lớn nhất nằm ở phía cầu. Lực cầu từ các nhà đầu tư tổ chức trong nước và quốc tế vẫn còn hạn chế. Đặc biệt, các định chế tài chính nước ngoài gần như chưa tham gia vào thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam.
Ông Nguyễn Quang Thuân, Chủ tịch FiinGroup. Ảnh: A Huy.
“Trong khi đó, tại các quốc gia trong khu vực, tỷ lệ nắm giữ của nhà đầu tư nước ngoài cao hơn nhiều, như Trung Quốc khoảng 6%, Hàn Quốc 21% và Indonesia 14%. Điều này cho thấy Việt Nam vẫn còn dư địa lớn để phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp”, ông Thuân nói.
Ở phía cung, thị trường cũng đang có những tín hiệu tích cực khi các quy định pháp lý mới được ban hành nhằm chuẩn hóa điều kiện phát hành, nâng cao yêu cầu minh bạch tài chính và xếp hạng tín nhiệm. Tuy nhiên, quy mô phát hành của doanh nghiệp phi ngân hàng vẫn còn nhỏ so với nhu cầu vốn của nền kinh tế.
Theo ông Thuân, nguồn vốn cho tăng trưởng không phải là vấn đề lớn, mà vấn đề cốt lõi là sử dụng vốn hiệu quả và phù hợp với kỳ hạn dự án. Trong tương lai, nếu doanh nghiệp Việt Nam đạt xếp hạng tín nhiệm cao, họ hoàn toàn có thể huy động vốn quốc tế với chi phí thấp hơn.






















