Phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Văn Thành, Giám đốc Công ty TNHH SX-TM Phước Thành IV (Vĩnh Long) xung quanh vấn đề này.
Tồn kho lớn, đơn hàng nhỏ giọt
- Thưa ông, bước sang năm 2026, bức tranh thị trường lúa gạo hiện nay đang diễn biến ra sao và ảnh hưởng thế nào tới doanh nghiệp?
Ông Nguyễn Văn Thành: Năm 2025 đã là một năm khó khăn đối với ngành gạo. Bước sang năm 2026, tình hình vẫn chưa có nhiều tín hiệu khả quan. Hiện nay, các doanh nghiệp chủ yếu nắm bắt thông tin thị trường xuất khẩu để theo dõi diễn biến. Về số lượng hợp đồng ký mới không dồi dào như các năm trước.
Năm 2026, gạo chất lượng cao và gạo thơm dự kiến đạt khoảng 5,8 triệu tấn, chiếm 75% tổng lượng xuất khẩu. Ảnh: N.H
Nguyên nhân lớn nhất là tồn kho tại nhiều quốc gia nhập khẩu vẫn ở mức khá cao. Khi lượng dự trữ còn lớn, các doanh nghiệp nhập khẩu chưa vội mua vào, hoặc nếu có mua khối lượng cũng rất nhỏ, mang tính thăm dò. Giá cả vì vậy cũng không được tốt. Với những doanh nghiệp còn hàng tồn kho từ trước thì có thể xoay xở bán ra, còn nếu mua mới vào thời điểm này gần như không có lợi nhuận.
Philippines vốn là thị trường truyền thống của gạo Việt Nam đã có động thái mua trở lại nhưng chủ yếu là các đơn hàng nhỏ lẻ. Họ không ký hợp đồng lớn như trước. Mặt bằng giá cũng ở mức thấp, nên doanh nghiệp phải cân nhắc rất kỹ.
Bên cạnh đó, vụ Đông Xuân, vụ thu hoạch lớn nhất trong năm đang đến gần. Khi nguồn cung trong nước tăng mạnh, tồn kho quốc tế còn cao, áp lực lên thị trường là điều khó tránh khỏi. Không chỉ tồn kho của các nước nhập khẩu lớn mà ngay cả tồn kho trong nước hiện cũng còn tương đối.
- Có ý kiến cho rằng cần điều chỉnh cơ cấu xuất khẩu, tập trung vào phân khúc gạo chất lượng cao thay vì chạy theo sản lượng. Quan điểm của ông ra sao?
Ông Nguyễn Văn Thành: Thực tế, việc điều chỉnh cơ cấu chất lượng đã được ngành nông nghiệp và Chính phủ đặt ra từ nhiều năm nay. Việt Nam không thể cạnh tranh với Ấn Độ ở phân khúc giá thấp. Phân khúc của chúng ta phù hợp hơn với Thái Lan và Campuchia.
Hiện nay, bộ giống lúa của Việt Nam khá đa dạng, trong đó một số giống như OM 5451, Đài Thơm 8… chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu sản lượng, lên tới 60-70%. Những giống này đã được nhiều thị trường ưa chuộng. Philippines chẳng hạn, vẫn đánh giá cao gạo Việt Nam do chất lượng ổn định, khả năng giao hàng nhanh, chế biến và đóng hàng linh hoạt.
Ở phân khúc cao cấp, ST25 là một điểm sáng. Thương hiệu này đã tạo được uy tín lớn trên thị trường trong nước và quốc tế. Không chỉ tại châu Âu, Trung Đông, Trung Quốc, mà ngay tại thị trường nội địa, người tiêu dùng cũng chuyển sang sử dụng gạo ST25 thay cho các dòng gạo nhập khẩu cao cấp trước đây. Đây là lợi thế cạnh tranh rất đáng ghi nhận.
- Ông đánh giá thế nào về thị trường Trung Quốc trong thời gian tới?
Ông Nguyễn Văn Thành:Trung Quốc là thị trường đặc thù và rất khó dự báo. Họ có nền nông nghiệp lớn, tồn kho dồi dào, thậm chí còn xuất khẩu sang một số quốc gia khác. Việc nhập khẩu của Trung Quốc phụ thuộc nhiều vào chính sách từng năm và hạn ngạch đấu thầu.
Ông Nguyễn Văn Thành - Giám đốc Công ty TNHH Sản xuất - Thương mại Phước Thành IV. Ảnh: Thùy Dương
Những năm gần đây, hạn ngạch nhập khẩu thường dao động khoảng 700.000-800.000 tấn. Trung Quốc chủ yếu quan tâm đến gạo nếp và các loại gạo đặc sản như ST21, ST25. Tuy nhiên, chính sách có thể thay đổi nhanh chóng, nên doanh nghiệp Việt Nam không thể chủ quan, mà cần đa dạng hóa thị trường.
Giữ cam kết bao tiêu, chủ động nguồn lực mùa Đông Xuân
- Trong bối cảnh thị trường còn khó khăn, doanh nghiệp đã có kế hoạch gì cho vụ Đông Xuân sắp tới, thưa ông?
Ông Nguyễn Văn Thành: Vụ Đông Xuân luôn là vụ quan trọng nhất trong năm, cả về sản lượng lẫn chất lượng. Đây là vụ cho chất lượng gạo tốt nhất và sản lượng lớn nhất.
Phía doanh nghiệp đã chuẩn bị sẵn sàng về kho bãi, máy móc, nhân lực và nguồn tài chính. Quan trọng nhất là thực hiện đúng cam kết bao tiêu với nông dân. Dù thị trường có khó khăn, doanh nghiệp vẫn phải thu mua lúa cho bà con theo hợp đồng đã ký.
Ngoài ra, chúng tôi cũng chủ động mua và tạm trữ một phần sản lượng Đông Xuân để phục vụ các tháng sau (khoảng tháng 5, tháng 6, tháng 7) khi nguồn cung từ các vụ khác không bảo đảm chất lượng bằng. Nhờ đó có thể pha trộn, điều tiết nguồn hàng, giữ ổn định chất lượng cho các đơn hàng xuất khẩu gạo, bảo đảm uy tín thương hiệu.
- Ông có kiến nghị gì trong bối cảnh thị trường còn nhiều thách thức?
Ông Nguyễn Văn Thành: Doanh nghiệp rất mong các chính sách được rà soát, điều chỉnh phù hợp thực tế. Chẳng hạn, một số quy định liên quan đến thanh toán, chuyển khoản đang gây khó cho cả nông dân lẫn doanh nghiệp. Nhiều nông dân chỉ bán lúa 1-2 vụ mỗi năm, việc yêu cầu mở tài khoản ngân hàng hay cung cấp nhiều giấy tờ có thể khiến họ e ngại.
Trong khi đó, doanh nghiệp nếu không thực hiện đúng quy định thì lại đối mặt với rủi ro pháp lý. Vì vậy, cần có lộ trình và cách làm linh hoạt, phù hợp điều kiện sản xuất ở nông thôn.
Về lâu dài, ngành gạo vẫn phải đi theo hướng nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu và giữ thị trường truyền thống, đồng thời mở rộng thị trường mới. Doanh nghiệp phải chủ động thích ứng, nhưng cũng rất cần môi trường chính sách ổn định để yên tâm đầu tư.
Dù thị trường đầu năm 2026 chưa thật sự khởi sắc, song với lợi thế về giống lúa, chất lượng ổn định và năng lực chế biến, xuất khẩu, gạo Việt Nam vẫn có chỗ đứng trên thị trường quốc tế. Điều quan trọng là doanh nghiệp giữ được cam kết với nông dân, chủ động nguồn lực và kiên định chiến lược nâng cao giá trị thay vì chạy theo số lượng.
- Xin cảm ơn ông!
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, năm 2026 cơ cấu xuất khẩu gạo tiếp tục chuyển dịch theo hướng nâng cao giá trị. Gạo chất lượng cao và gạo thơm dự kiến đạt khoảng 5,8 triệu tấn, chiếm 75% tổng lượng xuất khẩu. Sự dịch chuyển này cho thấy thay đổi rõ nét trong tư duy phát triển ngành hàng. Thay vì cạnh tranh ở phân khúc gạo trắng phổ thông với mức giá 300-350 USD/tấn, gạo Việt Nam đang tập trung vào các dòng gạo thơm, gạo đặc sản có giá trị gia tăng cao, giảm áp lực cạnh tranh về giá và nâng cao hiệu quả xuất khẩu.





















