CỔNG THÔNG TIN VÀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ

Bộ trưởng Tài chính: Tạo dư địa phát triển cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Invest Global 09:07 30/10/2026

Dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa hướng tới chuyển từ hỗ trợ dàn trải sang kiến tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp phát triển, mở rộng cơ hội tiếp cận mặt bằng sản xuất, thị trường và giảm chi phí tuân thủ. Cùng với đó, Bộ Tài chính đang nghiên cứu cơ chế tháo gỡ vướng mắc về thuế, thủ tục cho các doanh nghiệp đã ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất việc đóng mã số thuế.

Chiều 29/10, tại kỳ họp thứ 2, báo cáo làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội quan tâm tại phiên thảo luận về dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, cơ quan soạn thảo sẽ phối hợp chặt chẽ với cơ quan thẩm tra để tiếp thu tối đa, giải trình thấu đáo các ý kiến, nhằm bảo đảm luật sau khi được ban hành sớm đi vào cuộc sống, thúc đẩy doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển theo tinh thần Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 178 của Quốc hội.

Theo Bộ trưởng, tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết 68 là không hỗ trợ doanh nghiệp một cách tràn lan mà chuyển sang tạo lập môi trường, dẫn dắt doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển, đáp ứng yêu cầu của đất nước trong giai đoạn mới.

Mở rộng chính sách hỗ trợ, tạo động lực phát triển doanh nghiệp

Một trong những nội dung được đại biểu Quốc hội quan tâm là tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, dự thảo luật quy định mức lao động bình quân năm liền kề tối đa 300 người, tổng nguồn vốn tối đa 150 tỷ đồng hoặc doanh thu tối đa 400 tỷ đồng. Trong đó, tiêu chí về lao động là bắt buộc, còn doanh nghiệp có thể lựa chọn tiêu chí tổng nguồn vốn hoặc doanh thu.

Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn báo cáo làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội quan tâm tại phiên thảo luận về dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ảnh: Quốc hội.

So với quy định hiện hành, các ngưỡng này được điều chỉnh tăng. Luật trước đó quy định lao động bình quân tối đa 200 người, tổng nguồn vốn 100 tỷ đồng và tổng doanh thu 300 tỷ đồng. Cơ quan soạn thảo đã tính toán trên cơ sở tốc độ tăng trưởng GDP, chỉ số lạm phát theo thống kê của Cục Thống kê từ năm 2017 đến nay, nhằm bảo đảm các tiêu chí phù hợp hơn với thực tiễn phát triển và thông lệ quốc tế.

Trước băn khoăn của đại biểu Phạm Văn Hòa (đoàn Đồng Tháp) về việc phân chia ngưỡng doanh thu theo ngành nghề, Bộ trưởng Tài chính cho biết, các mức quy định trong dự thảo là ngưỡng tối đa. Khoản 2 và khoản 3 Điều 4 giao Chính phủ quy định cụ thể theo từng lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ, phù hợp với yêu cầu thực tế.

Về chính sách hỗ trợ, dự thảo luật thiết kế 11 chính sách hỗ trợ chung tại 11 điều và 4 chính sách hỗ trợ trọng tâm tại 4 điều. Trong đó, chính sách thuế nhận được sự quan tâm của nhiều đại biểu, đặc biệt là cách xác định thời gian hỗ trợ 3 năm kể từ khi doanh nghiệp được cấp giấy phép hay bắt đầu có thu nhập.

Giải trình nội dung này, Bộ trưởng cho biết dự thảo đang quy định thời gian hỗ trợ tính từ khi doanh nghiệp có giấy phép hoạt động, kế thừa quy định tại Nghị quyết 198 của Quốc hội ban hành năm 2025.

Vạn sự khởi đầu nan, khi mới bắt đầu doanh nghiệp rất khó khăn thì chúng ta có thời hạn 3 năm để doanh nghiệp thích ứng, tồn tại và phát triển.

Theo Bộ trưởng, chính sách không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp trong giai đoạn đầu hoạt động mà còn tạo động lực để hộ kinh doanh chuyển đổi lên mô hình doanh nghiệp, khuyến khích thành lập doanh nghiệp mới.

Hiện cả nước có khoảng 1,08 triệu doanh nghiệp đang hoạt động. Nghị quyết 68 đặt mục tiêu đến năm 2030 cả nước có 2 triệu doanh nghiệp và đến năm 2045 có 3 triệu doanh nghiệp. Trong bối cảnh công nghệ thông tin phát triển, mô hình doanh nghiệp ngày càng đa dạng, kể cả doanh nghiệp chỉ có một người, việc tạo động lực gia nhập thị trường và mở rộng quy mô có ý nghĩa quan trọng.

Nhấn mạnh quy mô doanh nghiệp là yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ và chất lượng tăng trưởng, Bộ trưởng dẫn kinh nghiệm Nhật Bản giai đoạn 1955-1972, khi nền kinh tế tăng trưởng trên 10% mỗi năm.

Theo số liệu được Bộ trưởng nêu, đóng góp của nhân tố tổng hợp đạt 58%; trong đó, chuyển dịch lao động chiếm hơn 8%, công nghệ đóng góp hơn 30% và phần còn lại, khoảng 20%, đến từ quy mô doanh nghiệp. "Như vậy, quy mô doanh nghiệp vô cùng quan trọng để thúc đẩy sự phát triển", Bộ trưởng khẳng định.

Bên cạnh chính sách thuế, tiếp cận mặt bằng sản xuất cũng là một nội dung đáng chú ý. Theo Bộ trưởng, trước đây, Nghị quyết 198 cho phép chính quyền địa phương hỗ trợ đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp và dành tối thiểu 5% diện tích đất hoặc 20 ha tại mỗi khu, cụm công nghiệp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Dự thảo luật tiếp tục mở rộng cơ chế này theo hướng cho phép UBND cấp tỉnh báo cáo HĐND cùng cấp quyết định đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp để dành quỹ đất cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Bộ trưởng đánh giá đây là bước mở rộng chính sách, tiếp tục phát huy những kết quả từ Nghị quyết 198.

Cũng theo số liệu Bộ trưởng dẫn, từ khi Nghị quyết 198 có hiệu lực, đã có 110 khu công nghiệp dành đất với đầy đủ hạ tầng để thu hút doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Một chính sách khác được nhấn mạnh là hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thị trường thông qua mua sắm công. Trên cơ sở kết quả thực hiện Nghị quyết 198, dự thảo quy định dành tối thiểu 20% kinh phí mua sắm công cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, đồng thời ưu tiên các gói thầu mua sắm có giá trị từ 20 tỷ đồng trở xuống.

Bộ trưởng cho biết, trong gần một năm triển khai Nghị quyết 198, đã có gần 226.000 gói thầu dưới 20 tỷ đồng dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, với hơn 12.000 doanh nghiệp tham gia. Tổng giá trị vốn mà các doanh nghiệp tiếp nhận đạt khoảng 126.000 tỷ đồng.

Đối với chi phí tuân thủ, Bộ trưởng cho biết từ đầu nhiệm kỳ đến nay, Chính phủ đã quyết liệt triển khai các giải pháp cắt giảm thủ tục hành chính, qua đó giảm 53% thời gian tuân thủ và 54% chi phí.

Trong quá trình xây dựng dự thảo luật, cơ quan soạn thảo tiếp tục chú trọng giảm thời gian, chi phí tuân thủ pháp luật cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; khuyến khích ứng dụng công nghệ thông tin, khai thác dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo để nâng cao hiệu quả hoạt động, giảm chi phí kinh doanh.

Gỡ vướng thủ tục, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường

Bên cạnh việc tạo điều kiện gia nhập và phát triển, những khó khăn khi doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường cũng được Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn đề cập. Bộ trưởng đồng tình với ý kiến cho rằng doanh nghiệp gia nhập thị trường đã khó, nhưng rút lui khỏi thị trường còn khó hơn, nhất là đối với các trường hợp đã ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục đóng mã số thuế.

Quốc hội thảo luận về dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ảnh: Quốc hội.

Theo Bộ trưởng, từ tháng 4/2026 đến nay, dưới sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và Chính phủ, Bộ Tài chính đã nhiều lần làm việc với Diễn đàn Toàn cầu và Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) nhằm đưa Việt Nam từ “danh sách đen” sang “danh sách xám” về không hợp tác thuế.

Dự kiến trong quý I/2028, OECD sẽ tiến hành đợt tổng giám sát để xem xét việc đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các quốc gia, vùng lãnh thổ không hợp tác về thuế. Theo Bộ trưởng, một trong những tiêu chí khó khăn là xử lý tình trạng doanh nghiệp đã ngừng hoạt động nhưng chưa đóng mã số thuế.

Thống kê được Bộ trưởng nêu cho thấy, hiện còn khoảng 2,8 triệu người nộp thuế chưa đóng mã số thuế, thuộc trạng thái 03 và 06. Trong đó, trạng thái 03 là đã dừng hoạt động kinh doanh, còn trạng thái 06 là không hoạt động tại địa điểm đăng ký. Đây là vấn đề tiềm ẩn nhiều rủi ro trong công tác quản lý thuế.

Trong 8 tháng đầu năm 2026, dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính đã đóng được gần 600.000 mã số thuế. Tuy nhiên, để tiếp tục xử lý khoảng 2,8 triệu trường hợp còn tồn đọng, trong đó có khoảng 1,2 triệu mã số thuế của doanh nghiệp và chi nhánh doanh nghiệp, Bộ trưởng cho biết cần có chính sách đặc thù trình Quốc hội xem xét.

Bộ trưởng dẫn ví dụ một doanh nghiệp đã ngừng hoạt động từ năm 2016, không phát sinh hoạt động kinh doanh, nhưng đến nay muốn đóng mã số thuế vẫn phải nộp tiền thuế và tiền phạt khoảng 62 triệu đồng, chủ yếu phát sinh từ thuế môn bài.

Trước thực tế này, Bộ Tài chính đã nghiên cứu, báo cáo Chính phủ và trình Quốc hội xem xét những nội dung thuộc thẩm quyền, như xóa tiền thuế môn bài, miễn tiền phạt và tiền chậm nộp. Đối với các thủ tục thuộc thẩm quyền của Chính phủ, cơ quan này cũng đang nghiên cứu phương án xử lý. Theo Bộ trưởng, thời gian tới sẽ có một nghị quyết riêng để giải quyết vấn đề trên.

Ngoài việc tháo gỡ vướng mắc về nghĩa vụ thuế, Bộ Tài chính cũng hướng tới rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động doanh nghiệp.

Bộ trưởng thông tin, sau cuộc gặp ngày 12/10 giữa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước với cộng đồng doanh nghiệp, trên cơ sở đề xuất của Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa, Bộ Tài chính đã chỉ đạo các cơ quan đăng ký doanh nghiệp đẩy nhanh quy trình xử lý. Theo đó, khi doanh nghiệp đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính, thủ tục giải thể hoặc đóng cửa doanh nghiệp chỉ thực hiện trong vòng 12 giờ.

Việc hoàn thiện khung pháp lý hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa vì thế không chỉ nằm ở ưu đãi thuế, mặt bằng hay cơ hội tiếp cận thị trường, mà còn ở khả năng giảm chi phí tuân thủ trong suốt vòng đời doanh nghiệp, từ khi thành lập, hoạt động đến khi chấm dứt kinh doanh.

Theo chương trình kỳ họp thứ 2, Quốc hội dự kiến thông qua Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa vào sáng 20/11.

Doanh nghiệp - Doanh nhân