CỔNG THÔNG TIN VÀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ

Công cụ quan trọng giải quyết điểm nghẽn kinh tế liên vùng

Invest Global 09:57 13/08/2026

Hàng nghìn công trình hạ tầng thiết yếu được hoàn thiện, sinh kế được mở rộng, tỷ lệ hộ nghèo giảm, khả năng tiếp cận giáo dục, y tế, văn hóa của người dân khu vực nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được cải thiện… là những kết quả đạt được từ các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021 - 2025. Nhưng chính quá trình thực hiện cũng bộc lộ những điểm nghẽn về cơ chế, đầu mối và cách phân bổ nguồn lực, đặt ra yêu cầu đổi mới cho giai đoạn tới.

Khi nguồn lực đi vào những nơi còn nhiều thiếu hụt

Nhìn lại giai đoạn 2021 - 2025, điều dễ nhận thấy nhất từ các chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG) không chỉ nằm ở số tiền được giải ngân hay số lượng công trình hoàn thành, mà ở sự thay đổi tại những vùng vốn có điều kiện phát triển khó khăn nhất.

Theo báo cáo của Bộ Tài chính, 3 CTMTQG về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được Quốc hội quyết định thực hiện với tổng nguồn lực dự kiến huy động 653.796,959 tỷ đồng. Đến cuối giai đoạn, tổng nguồn lực huy động đạt khoảng 1.319.936,092 tỷ đồng, tương đương 202% chủ trương đầu tư. Trong đó, ngân sách trung ương bố trí 194.006,848 tỷ đồng, đạt khoảng 101%; ngân sách địa phương 296.642,584 tỷ đồng, đạt khoảng 165%.

Công cụ quan trọng giải quyết điểm nghẽn kinh tế liên vùng Nguồn: Quốc hội. Đồ họa: Phương Anh

Từ nguồn lực này, hàng loạt công trình giao thông nông thôn, cầu dân sinh, trường học, trạm y tế, nước sinh hoạt được hoàn thiện; cùng với các mô hình sản xuất, sinh kế, đào tạo nghề, hỗ trợ người nghèo và thiết chế văn hóa. Các nguồn lực tập trung nhiều vào vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi - nơi được xác định là “lõi nghèo”, còn nhiều hạn chế về địa hình, sản xuất và tiếp cận dịch vụ.

Theo tổng kết của cơ quan quản lý, nhiều mục tiêu về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững đã hoàn thành hoặc đạt kết quả tích cực. Riêng Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đạt kết quả tích cực ở 6/9 nhóm mục tiêu.

Đáng chú ý, các CTMTQG đã từng bước giải quyết những thiếu hụt cơ bản của người dân vùng khó khăn, từ đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt, đất sản xuất, sinh kế đến giáo dục, y tế và hạ tầng thiết yếu. Đây là những vấn đề nếu chỉ dựa vào nguồn lực phân tán của từng địa phương sẽ khó giải quyết đồng bộ.

Đơn cử, tại Hà Giang, các CTMTQG được cụ thể hóa thành nhiều dự án hướng vào giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và bảo tồn văn hóa. Còn tại Quảng Ninh, Chương trình xây dựng nông thôn mới được gắn với phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo; đến năm 2024, tỉnh được Thủ tướng Chính phủ công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.

Những kết quả này cho thấy, nếu được tổ chức tốt, nguồn lực từ các CTMTQG không chỉ tạo ra một con đường, một cây cầu hay trường học, mà có thể hình thành chuỗi hỗ trợ từ hạ tầng đến sinh kế, giáo dục, y tế và giảm nghèo, qua đó nâng cao chất lượng cuộc sống.

Đó cũng là lý do Chính phủ đánh giá các CTMTQG đã khẳng định vai trò là công cụ chính sách quan trọng để Nhà nước tập trung nguồn lực giải quyết những vấn đề lớn, liên ngành, liên vùng và tác động trực tiếp đến đời sống nhân dân.

Thành quả lớn nhưng cách làm còn nhiều điểm nghẽn

Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực, nhưng nhìn vào hiệu quả sử dụng ngân sách trung ương, hạn chế vẫn rất rõ. Đến hết năm 2025, giải ngân ngân sách trung ương của các CTMTQG mới đạt khoảng 135.088,155 tỷ đồng, tương đương 76,8% kế hoạch, dự toán đã phân bổ, giao. Trong đó, vốn đầu tư công đạt 81,7%, kinh phí thường xuyên đạt 70,2%.

Theo đánh giá từ phía các cơ quan chuyên môn, tình trạng này không đơn thuần là câu chuyện kỹ thuật giải ngân, mà phản ánh những bất cập sâu hơn trong thiết kế và tổ chức thực hiện.

Trao quyền để nguồn lực sát thực tế hơn

Một trong những thay đổi đáng chú ý được đặt ra cho giai đoạn 2026 - 2030 là tăng quyền chủ động cho địa phương trong lựa chọn nhiệm vụ, dự án. Cùng một nguồn lực, nhưng nhu cầu giữa các địa bàn không giống nhau; nơi cần đường giao thông, nơi thiếu trường học, nước sạch, sinh kế hoặc dịch vụ y tế. Khi địa phương được chủ động quyết định thứ tự ưu tiên, nguồn vốn có điều kiện bám sát hơn những thiếu hụt thực tế. Tuy nhiên, đi cùng quyền chủ động phải là trách nhiệm về tiến độ, chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn lực.

3 CTMTQG có rất nhiều đầu mối tham gia quản lý. Cụ thể, Chương trình xây dựng nông thôn mới liên quan khoảng 20 đầu mối; Chương trình giảm nghèo bền vững 5 đầu mối; Chương trình phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi 12 đầu mối. Giai đoạn 2021 - 2025 phải ban hành khoảng 45 văn bản quy phạm pháp luật và gần 200 văn bản chỉ đạo, điều hành, hướng dẫn.

Ở cấp cơ sở, điều này đồng nghĩa với việc phải thực hiện nhiều quy trình, nhiều loại hồ sơ và phối hợp với nhiều cơ quan cho những nội dung đôi khi có sự giao thoa rất lớn. Các CTMTQG cũng có những nội dung tương đồng như hỗ trợ sinh kế, phát triển sản xuất, đào tạo nghề, truyền thông, nâng cao năng lực, kiểm tra, giám sát… nhưng lại được bố trí ở nhiều cấu phần khác nhau. Hệ quả là nguồn lực khó lồng ghép, thủ tục phối hợp tăng lên.

Đặc biệt, nhiều dự án, nhiệm vụ chưa được chuẩn bị kỹ ngay từ bước lập kế hoạch, lập dự toán, dẫn đến tình trạng “vốn chờ dự án, kinh phí chờ nhiệm vụ”. Riêng năm 2025, phải hủy dự toán 944,866 tỷ đồng chi đầu tư của 3 chương trình do một số bộ chưa hoàn thiện thủ tục đầu tư, không có khả năng thực hiện trong năm.

Hướng đến một chương trình tổng thể

Bước sang giai đoạn 2026 - 2035, yêu cầu đặt ra là phải tổ chức lại nguồn lực để đồng vốn đến với người dân nhanh hơn, đúng đối tượng và tạo ra kết quả rõ hơn.

Chính phủ đang trình Quốc hội phương án thống nhất 4 CTMTQG gồm: phát triển văn hóa; hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển thành một CTMTQG tổng thể.

Điểm đáng chú ý là việc thống nhất không nhằm “cộng cơ học” 4 chương trình, mà tổ chức lại theo các nhóm vấn đề cần giải quyết, đồng thời giữ nguyên mục tiêu, phạm vi, đối tượng và thời gian thực hiện đã được Quốc hội quyết nghị.

Dự kiến, chương trình tổng thể tập trung vào 7 nhóm nhiệm vụ, từ phát triển hạ tầng thiết yếu, kinh tế nông thôn, sinh kế, việc làm, giáo dục, y tế đến bảo tồn văn hóa, chính sách đặc thù vùng dân tộc thiểu số, miền núi và chuyển đổi số, quản lý dữ liệu, kiểm tra, đánh giá.

Tổng nguồn lực thực hiện 4 chương trình giai đoạn 2026 - 2030 được Quốc hội quyết nghị là 808.558 tỷ đồng. Chính phủ đề xuất đổi cách phân bổ từ “phân bổ theo nhu cầu đăng ký” sang “phân bổ theo năng lực và điều kiện sẵn sàng thực hiện”, gắn vốn hằng năm với kết quả giải ngân, kết quả thực hiện mục tiêu và khả năng tổ chức thực hiện.

Đáng chú ý, nguyên tắc “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm” được đặt ở vị trí quan trọng. Trung ương tập trung xây dựng mục tiêu, tiêu chí, chuẩn chuyên môn và giám sát kết quả; địa phương chủ động lựa chọn nhiệm vụ, dự án phù hợp với nhu cầu thực tế.

Sau cùng, giá trị của CTMTQG vẫn phải được đo bằng những thay đổi trong cuộc sống người dân: đường đến trường thuận lợi hơn, nước sạch và các dịch vụ thiết yếu được cải thiện, người nghèo có sinh kế và người dân vùng khó khăn có thêm cơ hội việc làm, tăng thu nhập.

Những kết quả giai đoạn 2021 - 2025 cho thấy khi nguồn lực nhà nước được tập trung đúng địa bàn, đúng đối tượng, hiệu quả tạo ra có thể rất lớn. Vì vậy, yêu cầu của giai đoạn 2026 - 2030 không chỉ là gộp các chương trình, mà quan trọng hơn là gộp được nguồn lực, giảm được thủ tục và tăng mức độ thụ hưởng của người dân.

Môi trường kinh doanh