CỔNG THÔNG TIN VÀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
(KTSG Online) – Trong kỷ nguyên của công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu, các ngành quản lý cần sớm triển khai mô hình sandbox đa lĩnh vực, cho phép doanh nghiệp thử nghiệm công nghệ mới trong môi trường pháp lý linh hoạt, nhưng vẫn kiểm soát rủi ro. Đồng thời, đặt nhu cầu doanh nghiệp ở vị trí trung tâm trong đặt hàng nghiên cứu, thương mại hóa công nghệ.
AI lấy việc làm nhưng cũng tạo ra việc làm mớiTừ giấy tờ đến dữ liệu: Bước chuyển của quản trị hiện đạiKhát vọng phát triển của người Việt trong kỷ nguyên mới
“Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội” là chủ đề tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Một điểm mới trong chủ đề Đại hội XIV là yếu tố “tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin”, phản ánh nhận thức rõ ràng của Đảng về bối cảnh thế giới hiện nay - đầy biến động, cạnh tranh chiến lược gay gắt và nhiều yếu tố khó lường.
Khách hàng tìm hiểu sản phẩm robot hỗ trợ đặt món tại nhà hàng, do doanh nghiệp Việt Nam nghiên cứu và phát triển. Ảnh: H.T
Điều này phần nào phản ánh qua cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thị trường quốc tế. Ông Nguyễn Đức Hùng Linh, Phó tổng giám đốc, Khối đầu tư thuộc TTC AgriS, cho biết các tiêu chuẩn ESG và yêu cầu truy xuất nguồn gốc đang tạo tác động mạnh tới hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam.
“Đây là hai yếu tố then chốt, không chỉ riêng với ngành nông nghiệp mà cho tất cả các ngành nghề muốn duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh trên quy mô toàn cầu”, ông Linh nói.
Muốn thực hành ESG, doanh nghiệp Việt Nam thường phải dành khoảng 3-5 năm đầu, với số vốn đầu tư lớn cho công nghệ, hệ thống, tư vấn, đào tạo… tiệm cận và đáp ứng các tiêu chuẩn ở mức cơ bản. Đồng thời, đáp ứng yêu cầu khắt khe về tốc độ phản hồi thông tin, bởi các nhà nhập khẩu, đặc biệt tại châu Âu, có thể yêu cầu doanh nghiệp cung cấp đầy đủ hồ sơ, giấy tờ gốc của sản phẩm chỉ trong vòng 4 giờ đồng hồ.
Thậm chí, trong tương lai, áp lực cạnh tranh có thể đẩy thời gian truy xuất xuống còn 1 giờ, hoặc doanh nghiệp phải cung cấp trực tiếp cho khách hàng một nền tảng dữ liệu, để họ trực tiếp truy cập thông tin, mà không qua khâu trung gian.
"Nếu không thể cung cấp dữ liệu ngay lập tức, điều đó đồng nghĩa doanh nghiệp chưa vận hành hiệu quả hoặc chưa sẵn sàng về hệ thống”, ông Linh nói và cho rằng thực tế này buộc doanh nghiệp phải số hóa toàn diện, chuyển đổi sang các hệ thống quản trị hiện đại như SAP.
Trước những đòi hỏi trong giai đoạn mới, đại diện một số doanh nghiệp đánh giá khoa học - công nghệ (KHCN) cần sớm hướng tới vai trò nền tảng, để hình thành mô hình tăng trưởng mới - nơi tri thức và đổi mới sáng tạo (ĐMST) là yếu tố tạo giá trị gia tăng cao nhất. Trong đó, các doanh nghiệp công nghệ nội địa là lực lượng tiên phong trong việc làm chủ công nghệ lõi, hướng tới hình thành tiềm lực công nghệ và năng lực tự chủ của đất nước, theo tinh thần dự thảo Văn kiện Đại hội XIV và Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị.
Ông Đặng Tùng Sơn, Giám đốc chiến lược, Tập đoàn CMC, nhận định điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa mục tiêu phát triển dài hạn tới năm 2045 là “giải phóng được sức dân”, đặc biệt là sức sáng tạo, năng lực đầu tư và năng lực đổi mới của doanh nghiệp tư nhân.
“Khi doanh nghiệp có không gian phát triển đủ rộng, các chương trình khoa học công nghệ mới có thể chuyển thành năng suất, sản phẩm và năng lực cạnh tranh quốc gia”, ông Sơn đánh giá.
Còn bà Nguyễn Hiền Phương, Tổng giám đốc Vietnamobile, dự báo 2026 sẽ là năm bản lề để ngành viễn thông, công nghệ Việt Nam phát triển theo chiều sâu, không chỉ cung cấp kết nối, mà còn trở thành nền tảng cho kinh tế số, xã hội số và các dịch vụ số thiết yếu cho người dân.
Theo đại diện Vietnammobile, Nghị quyết số 57 và 68 của Bộ Chính trị, khi đặt trong chỉnh thể các chủ trương lớn của Đảng và hệ thống pháp luật mới, đã tạo ra một “không gian chính sách” vừa đồng bộ, vừa mang tính đột phá cho khu vực kinh tế tư nhân.
Với Nghị quyết số 57, vai trò của doanh nghiệp viễn thông được mở rộng, từ nhà cung cấp băng thông sang trụ cột hạ tầng số cho Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số; đồng thời thúc đẩy ứng dụng các công nghệ chiến lược, như: AI, Big Data, Cloud, IoT, 5G/6G… tạo điều kiện để doanh nghiệp chuyển từ “bán dung lượng” sang “bán giải pháp”.
Với Nghị quyết số 68, vị thế và quyền bình đẳng của doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt trong tiếp cận các nguồn lực chiến lược, như: tần số, hạ tầng dùng chung, dữ liệu, cơ hội hợp tác công – tư trong phát triển hạ tầng số tiếp tục khẳng định.
Đây là cơ sở chính trị – pháp lý quan trọng để doanh nghiệp tư nhân mạnh dạn đầu tư dài hạn, chuyển dịch sang mô hình doanh nghiệp công nghệ – nền tảng, theo bà Phương.
Hướng tới quốc gia tự cường
Thực tế, yếu tố “số” đã hiện diện rõ trong cấu trúc tăng trưởng kinh tế và hoạt động sản xuất – kinh doanh những năm gần đây. Năm 2025, kinh tế số có giá trị tăng thêm đạt khoảng 72,1 tỉ đô la Mỹ - tăng 14,6% so với năm trước và đóng góp hơn 14% GDP, theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính).
Tuy nhiên, còn rất nhiều việc phải làm để đạt mục tiêu kinh tế số chiếm hơn 40% GDP đến năm 2035 và hình thành "chủ quyền công nghệ" – coi nắm giữ công nghệ cốt lõi là một phần của sức mạnh quốc gia, theo tinh thần tại dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV.
Không ít doanh nghiệp Việt Nam đã cơ bản làm chủ một số công nghệ cao như Misa, với sản phẩm robot có khả năng tương tác vật lý, nhảy, làm thơ, viết tin ngắn và giải đáp một số câu hỏi của người dùng trong thời gian ngắn. Ảnh: H.T
Ông Đặng Tùng Sơn cho rằng cần tập trung phát triển ba nhóm năng lực nền tảng, gồm: Cloud, AI và an ninh mạng - các cấu phần được doanh nghiệp coi “điều kiện đầu vào” cho chuyển đổi số và chuyển đổi AI quy mô lớn.
Giải pháp được đại diện CMC đưa ra là mở rộng và ổn định điều kiện để doanh nghiệp tư nhân tham gia đầu tư hạ tầng số cho các bài toán quốc gia, từ trung tâm dữ liệu, cloud, AI đến các nền tảng số dùng chung… nhằm áp lực đầu tư công, nâng năng lực cạnh tranh, thu hút dòng vốn chất lượng cao trong và ngoài nước.
Với bài toán AI-First; có thể xây dựng cơ chế để doanh nghiệp tư nhân tham gia vận hành hạ tầng trung tâm tính toán hiệu năng cao (HPC)/trung tâm dữ liệu AI theo hình thức đối tác công - tư (PPP), cung cấp dịch vụ tính toán cho khu vực công và cộng đồng startup AI.
Bên cạnh đó, cần có cơ chế bảo đảm cạnh tranh công bằng và mở các gói mua sắm công về KHCN cho mọi chủ thể, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME). Đồng thời, ưu tiên mua sắm công với các sản phẩm “Make in Vietnam”, để tạo thị trường đầu tiên và niềm tin thương mại hóa.
Bổ sung, ông Nguyễn Bá Diệp, đồng sáng lập MoMo, cho biết doanh nghiệp đầu tư vào những công nghệ mang tính đột phá thường hoạt động ở các lĩnh vực mới, như: fintech, AI, y tế số, sinh học, dữ liệu số… vốn đòi hỏi hành lang pháp lý linh hoạt và kịp thời. Do đó, Nhà nước có thể nghiên cứu sớm triển khai mô hình sandbox đa lĩnh vực, cho phép doanh nghiệp thử nghiệm công nghệ mới trong môi trường pháp lý linh hoạt nhưng vẫn kiểm soát rủi ro.
“Đây là mô hình mà nhiều quốc gia tiên tiến đã áp dụng hiệu quả”, ông Điệp nói.
Còn bà Nguyễn Thị Thành Thực, Chủ tịch HĐQT, Công ty công nghệ phần mềm Auto Agri, cho rằng bảo hộ sở hữu trí tuệ là một trong những “rào cản”, làm chậm quá trình đổi mới ở Việt Nam. Theo đó, không ít doanh nghiệp gặp khó khăn khi đăng ký bảo hộ, do thủ tục phức tạp, cơ sở dữ liệu chưa đủ minh bạch và thời gian xử lý kéo dài.
Bên cạnh đó, nhiều quy định pháp luật đã có hiệu lực, nhưng khâu triển khai, đặc biệt ở cấp cơ sở, còn lúng túng. Chẳng hạn, trong lĩnh vực nông nghiệp, việc ứng dụng công nghệ số cho truy xuất nguồn gốc đã được luật hóa nhiều năm, song đến nay vẫn chưa được thực thi đồng bộ, do đội ngũ cán bộ trực tiếp thực hiện chưa được trang bị đầy đủ kiến thức.
“Muốn nghị quyết đi vào cuộc sống thì trước hết người thực thi phải hiểu và dám làm” bà Thực nói.
Bên cạnh các giải pháp “mở không gian thị trường” cho doanh nghiệp, việc triển khai phong trào “Bình dân học vụ số”, qua các mô hình như “1-1-10” ở Hà Nội và “Công dân số bạc” ở TPHCM, nhằm giúp người dân dễ dàng di chuyển, kết nối với bạn bè và gia đình, thực hiện dịch vụ công trực tuyến, mua sắm, chăm sóc sức khỏe… qua các thiết bị di động thông minh cũng là yếu tố cần lưu tâm.





















