CỔNG THÔNG TIN VÀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ

Giải pháp phát triển bền vững thị trường vốn

Invest Global 08:13 23/07/2026

Mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong giai đoạn 2026–2030 đòi hỏi nguồn vốn đầu tư rất lớn, trong khi khả năng đáp ứng của ngân sách nhà nước và hệ thống ngân hàng đều có giới hạn. Trong bối cảnh đó, phát triển đồng bộ thị trường vốn theo hướng minh bạch, an toàn và bền vững trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm mở rộng kênh huy động vốn trung, dài hạn, giảm áp lực cho tín dụng ngân hàng và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực cho nền kinh tế.

Sáng ngày 23/7 tại Hà Nội, Tạp chí Nhà đầu tư tổ chức Hội thảo Giải pháp phát triển đồng bộ thị trường vốn.

Ban tổ chức trân trọng giới thiệu bài tham luận của TS. Nguyễn Quốc Hùng, nguyên Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng, với chủ đề "Giải pháp phát triển bền vững thị trường vốn":

1. Nhu cầu vốn cho tăng trưởng 2 con số

Thực hiện Kết luận số 18-KL/TW của Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng hai con số, trong đó có nội dung: "Ưu tiên phát triển thị trường vốn trong nước làm kênh huy động vốn dài hạn, giảm sự phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng."

Theo Bộ Tài chính, để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước tính khoảng 38,5 triệu tỷ đồng. Trong đó, ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng khoảng 20%, đặt ra yêu cầu cấp bách phải khơi thông 80% nguồn lực còn lại từ thị trường vốn, khu vực tư nhân và đầu tư nước ngoài.

Theo dự kiến, vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước và khu vực ngoài nhà nước chỉ khoảng 4,8 triệu tỷ đồng (chiếm 12,4%); dự kiến huy động từ thị trường vốn khoảng 5,4 triệu tỷ đồng; vốn tín dụng tăng thêm khoảng 14 triệu tỷ đồng; ngoài ra còn huy động vốn nước ngoài và các quỹ đầu tư...

Như vậy, có thể thấy để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ mục tiêu tăng trưởng hai con số không thể hoàn toàn dựa vào vốn tín dụng ngân hàng và vốn vay nước ngoài, mà phải tập trung phát triển thị trường vốn trong nước nhằm huy động nguồn vốn trung và dài hạn. Đây là nội dung rất quan trọng bởi thời gian qua, hầu hết nhu cầu vốn từ ngắn hạn đến trung và dài hạn để phát triển sản xuất, kinh doanh, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế đều dựa vào hệ thống ngân hàng.

Mặc dù thị trường trái phiếu và thị trường chứng khoán đã được hình thành và phát triển hơn 25 năm, song vẫn chưa phát huy hết tiềm năng, chưa thực sự tạo được niềm tin cho nhà đầu tư, dẫn đến kết quả còn hạn chế (đến nay vẫn còn doanh nghiệp phát hành trái phiếu đến hạn nhưng chưa thanh toán được cả gốc và lãi cho nhà đầu tư).

Chính vì vậy, yêu cầu tập trung phát triển thị trường vốn là hết sức cần thiết, nhằm giảm gánh nặng cho hệ thống ngân hàng trong việc cung ứng vốn, đặc biệt là vốn trung và dài hạn.

2. Thực trạng cho vay của các tổ chức tín dụng

Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, đến ngày 09/7/2026, dư nợ tín dụng đạt trên 20 triệu tỷ đồng, tăng 7,83% so với cuối năm 2025; tỷ lệ dư nợ tín dụng/GDP khoảng 146%, thuộc nhóm cao nhất trong khu vực. Trong khi đó, tổng nguồn vốn huy động chỉ đạt trên 18 triệu tỷ đồng, thấp hơn dư nợ khoảng 2 triệu tỷ đồng. Vì vậy, các tổ chức tín dụng phải huy động thêm vốn thông qua phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, tăng vốn điều lệ và vay vốn nước ngoài để đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh. Một số tổ chức tín dụng có tỷ lệ LDR vượt 100%. Chính vì vậy, thời gian qua, lãi suất huy động vốn từ tổ chức và cá nhân đã lên tới 8%, cá biệt có nơi lên tới 9%/năm đối với kỳ hạn từ 6-12 tháng.

Trên thị trường liên ngân hàng cũng tương tự, mặc dù Ngân hàng Nhà nước đã hỗ trợ thanh khoản, điều hành chính sách tiền tệ kịp thời, linh hoạt, song có những thời điểm lãi suất liên ngân hàng lên tới trên 12%/năm, nhất là vào những ngày cuối tháng. Như vậy, có thể thấy thời gian qua ngành ngân hàng đã tập trung mọi nguồn lực trong bối cảnh nguồn vốn huy động thấp hơn nhu cầu tín dụng.

Với nguồn vốn huy động chủ yếu là ngắn hạn (dưới 12 tháng, chiếm khoảng 80-85%), hệ thống ngân hàng vẫn phải dành nguồn lực để đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế. Trong thời gian tới, nhu cầu vốn nói chung và vốn trung, dài hạn nói riêng cho các công trình trọng điểm quốc gia sẽ rất lớn. Nếu tiếp tục chủ yếu dựa vào vốn ngân hàng sẽ vô cùng khó khăn. Khi đó, các ngân hàng sẽ phải đối diện với nhiều rủi ro như rủi ro thanh khoản, rủi ro kỳ hạn, rủi ro tỷ giá (nếu vay vốn nước ngoài).

Ngoài ra, ngành ngân hàng còn đang đối diện với rủi ro suy giảm giá trị tài sản bảo đảm tại các khu vực giải phóng mặt bằng phục vụ chỉnh trang, phát triển đô thị, như tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh..., do giá bồi thường giải phóng mặt bằng không đủ để khách hàng thanh toán nợ gốc ngân hàng.

Mặt khác, do thiếu vốn nên các ngân hàng phải nâng lãi suất huy động nhằm bảo đảm ổn định và tăng trưởng nguồn vốn, dẫn đến lãi suất cho vay tăng lên đáng kể.

Mặc dù Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo rất quyết liệt, song mặt bằng lãi suất huy động và cho vay vẫn rất khó giảm bởi thực tế nguồn vốn huy động thấp hơn dư nợ cho vay, làm chi phí vốn tăng cao. Điều này sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, các quyết định mở rộng đầu tư sản xuất - kinh doanh và tiềm ẩn rủi ro nợ xấu đối với hệ thống các tổ chức tín dụng.

3. Giải pháp phát triển thị trường vốn

Mục tiêu tăng trưởng hai con số đặt ra yêu cầu huy động nguồn lực tài chính rất lớn. Do đó, cần đa dạng hóa kênh huy động và nâng cao hiệu quả phân bổ vốn.

3.1. Giải pháp đa dạng hóa kênh huy động vốn

Tiếp tục đẩy mạnh các giải pháp hỗ trợ phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp và thị trường chứng khoán theo hướng minh bạch, an toàn, bền vững nhằm tăng khả năng huy động vốn trung và dài hạn, từng bước giảm sự phụ thuộc của nền kinh tế vào tín dụng ngân hàng. Muốn vậy, Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cần rà soát các quy định hiện hành để tạo hành lang pháp lý thông thoáng cho thị trường phát triển.

Bên cạnh đó, cần có chế tài xử lý thật nghiêm (kể cả xử lý hình sự) đối với các doanh nghiệp phát hành trái phiếu hoặc doanh nghiệp niêm yết công bố thông tin sai sự thật, thao túng giá, nhằm tạo lập một thị trường minh bạch, củng cố niềm tin và thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Như: (i) cần tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, đồng bộ hóa quy định, tạo hành lang pháp lý thông thoáng và bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư; thúc đẩy các doanh nghiệp nhà nước lớn thực hiện phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng và niêm yết trên sàn chứng khoán; khuyến khích và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có FDI lớn lên sàn Việt Nam; (ii) Chuẩn hóa các tiêu chuẩn công bố thông tin để thu hút dòng vốn ngoại và các định chế tài chính lớn thông qua việc ứng dụng công nghệ tiên tiến như công nghệ chuỗi khối (Blockchain) trong lưu ký, thanh toán và trong giám sát giao dịch, phát hiện sớm các dấu hiệu thao túng.

Cùng với đó là các giải pháp đa dạng hóa nguồn lực đầu tư đối với các dự án lớn, công trình trọng điểm quốc gia; kết hợp nhiều nguồn lực như ngân sách nhà nước, vốn tư nhân, hợp tác công - tư (PPP), vốn vay ODA và các nguồn vốn dài hạn khác, đặc biệt là các giải pháp thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao.

Bên cạnh đó, cần nghiên cứu giải pháp phát triển và đa dạng hóa các định chế tài chính ngoài ngân hàng, như khuyến khích hình thành và phát triển các quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ đầu tư tư nhân nhằm rót vốn trực tiếp vào các doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp công nghệ thay vì chỉ dựa vào vốn vay ngân hàng.

Nghiên cứu cho phép các tổ chức tín dụng có uy tín được phát hành trái phiếu quốc tế để huy động vốn đầu tư cho các công trình trọng điểm quốc gia và các dự án sản xuất, kinh doanh có hiệu quả. Đồng thời, cho phép các tổ chức tín dụng thực hiện dịch vụ quản lý tài sản bảo đảm đối với các doanh nghiệp phát hành trái phiếu nhằm hỗ trợ tăng trưởng và phát triển thị trường vốn.

3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả phân bổ vốn

Nâng cao hiệu quả phân bổ vốn trong cả đầu tư công và đầu tư tư nhân thông qua việc các bộ, ngành, địa phương đẩy mạnh cải cách thể chế, cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ các nút thắt trong đầu tư, kinh doanh để nâng cao khả năng hấp thụ nguồn lực của nền kinh tế (trong đó có vốn tín dụng), tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng định hướng đầu tư tín dụng phù hợp và hiệu quả.

3.3. Giải pháp từ các tổ chức tín dụng

Các tổ chức tín dụng cần đa dạng hóa nguồn vốn dài hạn thông qua việc củng cố nền tảng vốn tự có và tăng cường huy động vốn trung, dài hạn; chủ động tăng vốn cấp 1 một cách lành mạnh, phát hành trái phiếu và mở rộng các kênh huy động vốn quốc tế. Việc đa dạng hóa nguồn vốn sẽ giúp các tổ chức tín dụng cải thiện tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn, giảm áp lực thanh khoản. Các tổ chức tín dụng cần có giải pháp phân bổ dòng vốn hiệu quả vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng của nền kinh tế như xuất khẩu, đầu tư, tiêu dùng, chuyển đổi xanh, hạ tầng công nghệ, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo theo chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước.

Thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước đã điều chỉnh một số quy định nhằm hỗ trợ hoạt động tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế. Do đó, các tổ chức tín dụng cần chú trọng nâng cao năng lực quản trị rủi ro, kiểm soát chặt chẽ các tỷ lệ bảo đảm an toàn phù hợp với năng lực quản trị của mình, nhằm hạn chế và ngăn ngừa rủi ro tín dụng phát sinh trong quá trình mở rộng quy mô tín dụng phục vụ tăng trưởng kinh tế.

(*) TS. Nguyễn Quốc Hùng, Nguyên Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam