CỔNG THÔNG TIN VÀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
(KTSG) - Sự cần thiết phải phát triển thị trường vốn - trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) Việt Nam không còn là câu chuyện mới. Cùng với đó, đến thời điểm này, những giải pháp để thúc đẩy thị trường TPDN Việt Nam vẫn chưa hề cũ.
Trái phiếu doanh nghiệp ‘kẹt lối’ khi dòng vốn quẩn quanh bất động sản, ngân hàngHuy động hơn 80.000 tỉ đồng trái phiếu Chính phủ trong quí 1
Sự thật qua con số
Những số liệu được các chuyên gia trong nước và quốc tế đưa ra tại Diễn đàn Thị trường TPDN Việt Nam 2026, tổ chức hồi đầu tháng 4-2026 tại Hà Nội, góp phần khắc họa bức tranh trung thực, đa chiều của thị trường vốn nói chung và thị trường TPDN Việt Nam nói riêng. Đối với thị trường vốn, hệ số tín dụng trên GDP đã vào khoảng trên 140%, mức cao so với các nước có thu nhập trung bình thấp.
Trong khi đó, theo nghiên cứu của các chuyên gia FiinRatings, các nước có thu nhập cao vẫn phải duy trì tỷ lệ đầu tư trên 20% GDP và đối với trường hợp Việt Nam, hướng đến mức tăng trưởng hai con số, tổng vốn đầu tư toàn xã hội phải tăng và đạt gần 40% GDP vào năm 2030. Điều này đồng nghĩa với việc sự thiếu hụt nguồn vốn trung và dài hạn của nền kinh tế có thể dao động trong khoảng 20-30 tỉ đô la Mỹ mỗi năm.
Tuy nhiên, tới cuối tháng 11-2024, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn của toàn hệ thống ngân hàng thương mại đã đạt trên 28%, rất gần với mức trần 30% theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Cơ cấu huy động tiền gửi lên tới khoảng 90% là kỳ hạn dưới 12 tháng càng chứng minh, các ngân hàng thương mại khó gánh vác được phần lớn trọng trách cung ứng vốn cho nền kinh tế như trước kia.
Chưa kể, đối với các ngân hàng thương mại, sứ mệnh này còn có thể dẫn đến nguy cơ rủi ro cao, theo đánh giá của S&P Ratings dựa trên tỷ lệ dư nợ của ngân hàng với khu vực phi chính phủ trong nước/GDP của các nền kinh tế có thu nhập bình quân đầu người từ 3.000-7000 đô la Mỹ năm 2025.
Theo ghi nhận của FiinRatings, trong giai đoạn 2021-2025, biên lãi ròng của các ngân hàng thương mại có xu hướng giảm, triển vọng không thuận lợi như hai năm trước. Từ đó, có thể suy luận, việc các ngân hàng thương mại thực hiện huy động vốn TPDN để đảm bảo cung ứng vốn cho doanh nghiệp thông suốt cũng sẽ không thuận lợi như trước.
Có thể dự đoán, với những cải cách phù hợp, thị trường TPDN Việt Nam sẽ có nhiều chuyển biến tích cực trong những năm sắp tới.
Từ phía doanh nghiệp, khảo sát của S&P Capital IQ, S&P Global Ratings cho thấy, tại Việt Nam, tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng nợ vay của tốp 50 doanh nghiệp niêm yết lớn nhất theo tổng tài sản tăng từ 40% lên 45% từ năm 2018-2024.
Trong khi doanh nghiệp các nước ASEAN như Thái Lan, Philippines, Malaysia, Indonesia đều giảm phụ thuộc vào nợ ngắn hạn, doanh nghiệp Việt Nam lại gia tăng sự phụ thuộc này.
Số liệu do CGIF, một quỹ tín thác của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) và FiinRatings tính toán tại thời điểm cuối năm 2024 cho thấy, tỷ lệ quy mô TPDN trên tín dụng ngân hàng tại Việt Nam là 7%, thấp hơn đáng kể so với các nước trong khu vực như Thái Lan (36%), Philippines (12%), Malaysia (96%).
Tại thời điểm này, tỷ lệ trái phiếu lãi suất thả nổi trên tổng số lượng TPDN đang lưu hành của Việt Nam là 57,6%, gia tăng rủi ro tái cấp vốn cho doanh nghiệp. Rõ ràng, bức tranh thị trường TPDN Việt Nam cần phải thay đổi cả về bố cục, phối cảnh và màu sắc.
Tận dụng vốn nội, thu hút ngoại lực
Đáng lưu ý, khi thị trường TPDN vẫn còn ảm đạm, dư địa để thúc đẩy kênh dẫn vốn này lại rất dồi dào. Nói cách khác, khắc phục những hạn chế còn tồn tại, thị trường TPDN Việt Nam sẽ cất cánh.
Theo ADB, tới quí 3-2025, dư nợ TPDN trên GDP của Việt Nam là 9%, thấp hơn rất nhiều so với Thái Lan (24%), Singapore (27%), Malaysia (55%). Cùng thời điểm, ADB không ghi nhận dữ liệu về tỷ lệ vòng quay theo quí của TPDN tại Việt Nam, chứng tỏ, khả năng thanh khoản trên thị trường thứ cấp hạn chế.
Nghiên cứu của FiinRatings bổ sung, dù đã xuất hiện nhiều tín hiệu khởi sắc trên thị trường TPDN như từ năm 2023-2025, tỷ lệ chậm trả phát sinh mới giảm mạnh từ 13,8% xuống còn 2,8%; tỷ trọng nhà phát hành có điểm tín nhiệm dưới mức đầu tư giảm từ 40% xuống còn 25%..., phát hành riêng lẻ vẫn chiếm ưu thế tuyệt đối, lên tới 91% tổng lượng phát hành năm 2025, cơ cấu phát hành vẫn chủ yếu là doanh nghiệp bất động sản (18%) và ngân hàng (68%).
Từ phía nhà đầu tư tổ chức, TPDN chiếm 4,4% danh mục tài sản nắm giữ của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, 9,9% danh mục tài sản nắm giữ của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ.
Ông Lê Hồng Khang, Giám đốc Nghiên cứu và Phân tích của FiinRatings, đề xuất ba tầng cải cách một cách đồng bộ gồm:
(1) Kiến tạo nền tảng thông qua tạo lập hạ tầng định giá chuẩn, thiết lập đường cong lợi suất chuẩn, ổn định, nhất quán để định hướng giá tín dụng hợp lý, áp dụng hệ số rủi ro theo xếp hạng tín nhiệm nội địa, khuyến khích đầu tư vào trái phiếu xếp hạng tín dụng cao.
(2) Củng cố hạ tầng thông qua các thiết chế giúp cải thiện thanh khoản, trong đó có việc kiến tạo thị trường repo cho TPDN.
(3) Thúc đẩy tăng trưởng thông qua các sản phẩm mới, chẳng hạn, trái phiếu cơ sở hạ tầng, quỹ trái phiếu hạ tầng...
Đẩy mạnh phát hành TPDN ra công chúng, để đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư tổ chức nước ngoài là vấn đề được đề cập trong khuôn khổ diễn đàn nói trên. Các chuyên gia đều đề xuất rút ngắn thời gian phê duyệt hoặc miễn phê duyệt đối với tổ chức phát hành ra công chúng đủ điều kiện, tất nhiên, với các quy định phù hợp thông lệ quốc tế, bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư.
Dù vậy, động lực lớn nhất vẫn đến từ doanh nghiệp. Chia sẻ của vị lãnh đạo đến từ một công ty sản xuất đồ nhựa vừa phát hành thành công một lô trái phiếu xanh trị giá 260 tỉ đồng, kỳ hạn bảy năm với lãi suất cố định 5,85% cho thấy, doanh nghiệp này đang chủ động hướng tới dòng vốn chất lượng, ổn định, bền vững từ TPDN.
Doanh nghiệp chủ động xếp hạng trái phiếu và sử dụng dịch vụ bảo lãnh tín dụng, tạo dựng niềm tin và đảm bảo nhu cầu minh bạch thông tin của nhà đầu tư. Tương tự, một số doanh nghiệp hạ tầng sản xuất nước cũng đã huy động được cả ngàn tỉ đồng vốn với lãi suất cố định, kỳ hạn 10-20 năm, từ TPDN thông qua xếp hạng trái phiếu và bảo lãnh tín dụng. Có thể dự đoán, với những cải cách phù hợp, thị trường TPDN Việt Nam sẽ có nhiều chuyển biến tích cực trong những năm sắp tới.




















