CỔNG THÔNG TIN VÀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
Kết quả kinh doanh quý I cho thấy nhóm ngân hàng nhỏ có dấu hiệu hụt hơi. Ảnh: ĐVNgân hàng lớn duy trì đà tăng, nhóm nhỏ chịu áp lực
Kết quả kinh doanh quý I/2026 phản ánh rõ sự phân hóa trong hệ thống ngân hàng. Nhóm nhà băng quy mô lớn tiếp tục duy trì tăng trưởng ổn định, chiếm ưu thế tuyệt đối về lợi nhuận.
Dẫn đầu hệ thống là Vietcombank với 11.832 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, tăng 5,42% so với cùng kỳ. VietinBank ghi nhận 11.139 tỷ đồng, tăng mạnh 63,3%, trở thành ngân hàng có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong nhóm quốc doanh.
Ở khối tư nhân, MB đạt 9.628 tỷ đồng (+14,8%), Techcombank đạt 9.531 tỷ đồng (+22,5%), trong khi BIDV ghi nhận 8.571 tỷ đồng (+16,1%). VPBank và HDBank nổi bật với mức tăng trưởng lần lượt 58% và 46%, cho thấy sự phục hồi của các động lực kinh doanh cốt lõi sau giai đoạn khó khăn.
Không chỉ tăng trưởng về quy mô lợi nhuận, tiến độ thực hiện kế hoạch năm của nhóm ngân hàng lớn cũng ở mức cao. VietinBank đã hoàn thành 33,75% kế hoạch năm, HDBank đạt 30,54%, trong khi phần lớn các ngân hàng còn lại dao động quanh mức 24%–25%.
Ở chiều ngược lại, bức tranh của nhóm ngân hàng quy mô vừa và nhỏ cho thấy sự biến động đáng kể. Một số ngân hàng ghi nhận mức tăng trưởng đột biến như ABBank (+260%), PGBank (+187%) hay BVBank (+170%), song chủ yếu đến từ nền so sánh thấp hoặc các khoản thu bất thường, chưa phản ánh sự cải thiện bền vững của hoạt động kinh doanh.
Trong khi đó, không ít ngân hàng ghi nhận kết quả kém tích cực. Sacombank đạt 2.106 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, giảm 43% so với cùng kỳ, phản ánh áp lực trong quá trình xử lý tài sản tồn đọng và gia tăng trích lập dự phòng. Các ngân hàng như SeABank hay Eximbank cũng đối mặt với áp lực tương tự khi chi phí dự phòng tăng mạnh.
Quy mô và chất lượng tài sản định hình cuộc chơiDiễn biến quý I cho thấy một thay đổi mang tính cấu trúc của ngành ngân hàng: tăng trưởng tín dụng đang được phân bổ theo hướng chọn lọc hơn. Những ngân hàng có quy mô lớn, nền tảng vốn mạnh hoặc tham gia tái cơ cấu hệ thống có xu hướng được cấp hạn mức tín dụng cao hơn, qua đó duy trì đà tăng trưởng.
Ngược lại, các ngân hàng quy mô nhỏ hoặc có chất lượng tài sản kém hơn gặp nhiều hạn chế về dư địa tín dụng, khiến hoạt động kinh doanh phụ thuộc nhiều hơn vào các yếu tố ngắn hạn như thu nhập bất thường hoặc cắt giảm chi phí.
Ông Đỗ Minh Phú, Chủ tịch TPBank, ví hạn mức tín dụng như “tấm chăn không đủ rộng để co kéo”, phản ánh bài toán khó trong việc vừa đảm bảo tuân thủ chính sách, vừa duy trì tăng trưởng và hiệu quả kinh doanh trong bối cảnh điều hành tiền tệ tiếp tục thận trọng.
Theo đánh giá của Công ty Chứng khoán SSI, lợi nhuận ngành ngân hàng năm 2026 có thể tiếp tục tăng trưởng hai chữ số, song sẽ phân hóa rõ rệt giữa các nhóm ngân hàng. Trong đó, các nhà băng có nền tảng vốn vững và khả năng mở rộng tín dụng tốt sẽ chiếm ưu thế.
Trong khi đó, Công ty Chứng khoán Vietcombank cho rằng biên lãi ròng (NIM) có thể chịu áp lực trong nửa cuối năm do cạnh tranh huy động gia tăng, buộc các ngân hàng phải dựa nhiều hơn vào tăng trưởng tín dụng để duy trì lợi nhuận.
Một trong những yếu tố cốt lõi tạo nên sự phân hóa là chất lượng tài sản. Tính đến cuối quý I/2026, các ngân hàng lớn tiếp tục kiểm soát tốt nợ xấu như Vietcombank (0,62%), ACB (0,97%), VietinBank (1,02%) và BIDV (1,30%).
Ngược lại, nhóm ngân hàng quy mô nhỏ hơn ghi nhận tỷ lệ nợ xấu cao hơn, như MSB (2,66%), SeABank (2,24%) hay Sacombank (khoảng 2,2%). Áp lực nợ xấu kéo theo chi phí dự phòng gia tăng, trực tiếp bào mòn lợi nhuận.
Thực tế cho thấy, một số ngân hàng đã phải đẩy mạnh trích lập dự phòng trong quý I. Eximbank ghi nhận chi phí dự phòng tăng hơn 150% so với cùng kỳ. Nhiều ngân hàng khác cũng gia tăng trích lập nhằm xử lý nợ xấu phát sinh và củng cố bộ đệm tài chính.



















