CỔNG THÔNG TIN VÀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
Mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số giai đoạn 2026-2030 đang đặt ra bài toán huy động nguồn lực chưa từng có đối với nền kinh tế Việt Nam. Ảnh minh họa: Internet.
Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đầy tham vọng: tăng trưởng GDP từ 10% trở lên trong năm 2026 và duy trì tốc độ tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026-2030. Để đạt mục tiêu này, Bộ Tài chính ước tính tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội cần đạt khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, gấp hơn hai lần so với giai đoạn 2021-2025.
Trong bối cảnh đó, tín dụng ngân hàng vẫn được xác định là nguồn vốn quan trọng trong hỗ trợ tăng trưởng nền kinh tế. Theo Ngân hàng Nhà nước, đến ngày 26/6/2026, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt hơn 19,97 triệu tỷ đồng, tăng 7,41% so với cuối năm 2025 và tăng 18,1% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng khá cao trong 6 tháng đầu năm, tạo dư địa hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Để đáp ứng nhu cầu vốn cho các dự án trọng điểm, Ngân hàng Nhà nước đã áp dụng cơ chế đặc biệt khi loại trừ dư nợ của 18 dự án thuộc ba tập đoàn Vingroup, Sun Group và Masterise khỏi hạn mức tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng. Nhìn từ việc triển khai các dự án trọng điểm, có thể thấy động lực tăng trưởng quan trọng vẫn đến từ đầu tư công; tuy nhiên điểm nhấn là các dự án này được giao cho tư nhân thực hiện. Để đáp ứng nguồn vốn khổng lồ cho các dự án này, việc áp dụng cơ chế đặc biệt cho thấy chính sách tiền tệ vẫn giữ trọng trách lớn hơn trong thúc đẩy tăng trưởng.
Bên cạnh đó, trong điều hành tín dụng, NHNN cho phép các NHTM không tính dư nợ cho vay nhà ở trong đó có đối tượng chủ đầu tư xây dựng dự án nhà ở để bán, cho thuê mua, cho thuê vào chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng của NHTM; không tính dư nợ tăng thêm so với cuối năm 2025 đối với lĩnh vực nhà ở xã hội vào dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực BĐS khi kiểm soát mức tăng trưởng tín dụng BĐS.
Dù vậy, hầu hết các tổ chức quốc tế và chuyên gia trong nước đều chung nhận định rằng tăng trưởng cao không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào tín dụng ngân hàng. Dữ liệu từ Fitch Ratings cho thấy tỷ lệ tín dụng trên GDP của Việt Nam hiện thuộc nhóm cao trên thế giới. Theo đó, chỉ tiêu này tăng từ khoảng 134% GDP cuối năm 2024 lên khoảng 145% GDP vào cuối năm 2025. Điều này phản ánh dư địa mở rộng tín dụng theo chiều rộng không còn nhiều, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả phân bổ vốn và kiểm soát rủi ro hệ thống.
TS. Phạm Xuân Hòe, Nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Ngân hàng, cảnh báo rủi ro vĩ mô khi tăng trưởng tiếp tục dựa chủ yếu vào tín dụng. Ông cảnh báo nếu cứ thúc đẩy tín dụng để kỳ vọng tăng trưởng cao, chu kỳ kinh tế 10 năm của Việt Nam có thể bị rút ngắn.
Từ thực tiễn, TS. Phạm Xuân Hòe nêu ra ba bài học lớn. Thứ nhất, việc nới lỏng đồng thời chính sách tiền tệ và tài khóa giai đoạn 2008–2011 đã dẫn tới tăng trưởng nóng và bất ổn vĩ mô. Thứ hai, điều hành chính sách theo kiểu “giật cục” - thắt chặt rồi lại nới lỏng nhanh dễ tạo cú sốc cho nền kinh tế. Thứ ba, phân bổ nguồn lực méo mó, khi siết tín dụng vào bất động sản và chứng khoán, có thể làm kinh tế giảm tốc đột ngột.
Ông Phạm Lưu Hưng, Kinh tế trưởng, Trưởng Ban đào tạo và Phát triển của CTCP Chứng khoán SSI khẳng định muốn đạt mức tăng trưởng GDP 2 chữ số, động lực của Việt Nam không thể chỉ dựa vào tín dụng ngân hàng mà còn cần đến từ thị trường vốn, khu vực chấp nhận khẩu vị rủi ro cao hơn và có khả năng tạo đột phá bền vững hơn cho nền kinh tế.
Điều này đặt ra yêu cầu cần một hệ thống tài chính cân bằng, giảm dần sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng và mở rộng vai trò của thị trường vốn trong cung ứng vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế.
Để thị trường vốn trở thành trụ cột mớiBối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, áp lực lạm phát gia tăng và dư địa chính sách tiền tệ dần thu hẹp, bài toán điều hành đặt ra việc phối hợp nhịp nhàng giữa các chính sách vĩ mô để vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định nền tảng kinh tế.
GS.TS. Hoàng Văn Cường nhìn nhận sự kết hợp nhịp nhàng giữa chính sách tiền tệ và tài khóa nghĩa là chính sách tiền tệ đóng vai trò kiểm soát, ổn định tỷ giá và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính. tuy nhiên, khi lạm phát có xu hướng tăng, dư địa nới lỏng tiền tệ sẽ bị thu hẹp. Trong khi đó, chính sách tài khóa có thể linh hoạt hơn trong việc hỗ trợ tăng trưởng, thông qua các công cụ như thuế, chi tiêu công và đầu tư công.
Trong bối cảnh nguồn lực có hạn, các chuyên gia đánh giá thị trường vốn chính là “van giảm áp” giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Một thị trường vốn ổn định, lành mạnh sẽ giúp 2 chính sách ít xung đột với nhau hơn.
Ông Nguyễn Thế Minh, Giám đốc Khối Ngân hàng Đầu tư (kiêm Phó Giám đốc Khối Kinh doanh), CTCP Chứng khoán An Bình khẳng định khẳng định thị trường vốn chính là điểm cân bằng giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa.
“Chính sách tiền tệ tác động tới mặt bằng lãi suất, định giá tài sản tài chính; còn chính sách tài khóa thông qua đầu tư công, chi tiêu ngân sách hay các chính sách ưu đãi sẽ thúc đẩy dòng vốn và nhu cầu đầu tư trên thị trường vốn. Trong khi đó, thị trường vốn gồm thị trường cổ phiếu và thị trường trái phiếu, đóng vai trò là kênh cung ứng vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. Đây cũng chính là nơi tạo ra sự cân bằng giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa”, ông Minh nói.
Hiện nay, cơ cấu vốn của doanh nghiệp Việt Nam vẫn phụ thuộc rất lớn vào tín dụng ngân hàng. Bên cạnh đó là vốn chủ sở hữu, nhưng phần lớn vốn tự có lại chủ yếu do chính chủ doanh nghiệp đóng góp, thay vì được huy động rộng rãi từ thị trường. Điều này cho thấy doanh nghiệp vẫn chưa khai thác hiệu quả chức năng huy động vốn của thị trường chứng khoán.
Ông Minh chỉ ra 3 vấn đề cần ưu tiên để thị trường vốn Việt Nam trở thành kênh dẫn vốn cho nền kinh tế. Thứ nhất là nâng cao chất lượng hàng hóa trên thị trường vốn. "Chúng ta nói nhiều đến câu chuyện nâng hạng thị trường hay nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia, nhưng cốt lõi vẫn là chất lượng của doanh nghiệp niêm yết và doanh nghiệp phát hành. Khi doanh nghiệp có nền tảng tài chính tốt, quản trị minh bạch và triển vọng tăng trưởng rõ ràng, niềm tin của nhà đầu tư sẽ được củng cố. Đây mới là yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của thị trường vốn", ông Minh chia sẻ.
Thứ hai là duy trì và nâng cao tính minh bạch. Những năm gần đây, thị trường đã có nhiều cải thiện về công bố thông tin và quản trị doanh nghiệp, nhưng đây là quá trình phải được duy trì liên tục. Thị trường vốn là nơi cung cấp nguồn vốn dài hạn nên nhà đầu tư cũng cần có niềm tin dài hạn. Mà nền tảng của niềm tin chính là sự minh bạch.
Thứ ba là giảm các rào cản kỹ thuật trong huy động vốn, đồng thời tiệm cận các thông lệ quốc tế. Chẳng hạn, việc áp dụng cơ chế non-prefunding sẽ tạo thuận lợi hơn cho nhà đầu tư nước ngoài. Cùng với đó là phát triển mạnh ngành quản lý quỹ, đặc biệt là các quỹ mở và quỹ ETF - những công cụ có khả năng thu hút dòng vốn dài hạn và ổn định hơn so với dòng vốn đầu tư cá nhân.
Về phần mình, ông Nguyễn Bá Hùng, Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cho rằng phải xây dựng một hệ sinh thái tài chính hoàn chỉnh với nhiều thành viên tham gia và có sự liên thông. Hiện nay, thị trường tài chính của Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào tín dụng ngân hàng, trong khi các kênh phi ngân hàng còn phát triển hạn chế.
Do đó cần tiếp tục phát triển thị trường vốn, bao gồm cả thị trường trái phiếu và thị trường cổ phiếu, đồng thời nâng cao tính minh bạch thông tin và chất lượng xếp hạng tín nhiệm.
Ngoài ra, cần phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính và tăng cường kết nối với thị trường tài chính quốc tế để huy động được các nguồn vốn quy mô lớn. Cuối cùng, việc nâng cao hiệu quả của hệ thống dịch vụ tài chính sẽ góp phần giúp thị trường tài chính vận hành hiệu quả hơn.
























