CỔNG THÔNG TIN VÀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
Thời gian qua, tình hình thế giới và trong nước tiếp tục biến động nhanh, mạnh, khó lường, thiên tai, biến đổi khí hậu diễn biến bất thường,... ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đặt ra nhiều áp lực trong công tác định hướng, chỉ đạo điều hành của Đảng và Nhà nước ta.
Ngày 2/4/2026, Tổng Bí thư Tô Lâm ký ban hành Kết luận số 18-KL/TW Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng "2 con số". Kết luận 18-KL/TW đã chỉ rõ mục tiêu “Phát triển nhanh, bền vững đất nước; phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân đạt từ 10%/năm trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống Nhân dân” và một trong những giải pháp quan trọng là “Chuyển đổi mô hình tăng trưởng; đẩy mạnh cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực; phát triển các khu vực doanh nghiệp, các mô hình kinh tế mới; Tạo đột phá phát triển các thành phần kinh tế gắn với triển khai hiệu quả các nghị quyết của Bộ Chính trị; Chú trọng phát triển các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, doanh nghiệp lớn có năng lực cạnh tranh khu vực và toàn cầu”. Những định hướng mục tiêu và giải pháp nêu trên cho thấy Đảng và Nhà nước ta tiếp tục xác định các tập đoàn kinh tế (TĐKT) là lực lượng nòng cốt, dẫn dắt và tạo động lực quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Trọng tâm là nâng cao hiệu quả, năng lực cạnh tranh, thúc đẩy công nghiệp hóa - hiện đại hóa, đồng thời phát huy vai trò chủ đạo của TĐKT nhà nước trong việc ổn định vĩ mô và việc dần tham gia đầu tư các dự án hạ tầng chiến lược của các tập đoàn kinh tế tư nhân.
Căn cứ diễn biến tình hình thế giới, bám sát chủ trương định hướng của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội nói chung, phát triển các thành phần kinh tế nói riêng, trong đó có cộng đồng doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế, các cấp, các ngành đã và đang nỗ lực triển khai các nhiệm vụ, giải pháp để tăng tốc, bứt phá, phấn đấu thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
1. Các giải pháp về tiền tệ và tín dụng ngân hàng góp phần hỗ trợ phát triển các tập đoàn kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng hai con sốTrên cơ sở bám sát các chủ trương, định hướng, chỉ đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, thời gian qua Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã triển khai đồng bộ các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ (CSTT), tín dụng và hoạt động ngân hàng nhằm thực hiện đồng thời các mục tiêu vừa kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an toàn hệ thống, vừa tạo điều kiện thuận lợi tiếp cận vốn cho mọi thành phần kinh tế, trong đó có các tập đoàn kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững, cụ thể:
Thứ nhất, NHNN đã chú trọng hoàn thiện khuôn khổ pháp lý trong lĩnh vực ngân hàng gắn với cải cách thủ tục hành chính. Theo đó, trong giai đoạn 2021-2025, NHNN đã trình cấp có thẩm quyền ban hành 4 Luật, 20 Nghị định, 7 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và ban hành theo thẩm quyền 201 Thông tư hướng dẫn thi hành Luật, góp phần tăng cường quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng và tạo cơ sở để triển khai hiệu quả các cơ chế, chính sách tiền tệ, tín dụng góp phần hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp, trong đó có các tập đoàn kinh tế, thúc đẩy phục hồi và phát triển kinh tế; đồng thời, tích cực cải cách thủ tục hành chính góp phần cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng.
Thứ hai, NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, hiệu quả, phối hợp đồng bộ, hài hòa, chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách khác góp phần ưu tiên hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát.
Thứ ba, NHNN điều hành tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, chủ động, tích cực triển khai các giải pháp tín dụng đối với ngành, lĩnh vực nhằm hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; tăng khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của các thành phần kinh tế, góp phần hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua việc: (i) Tăng cường công tác chỉ đạo, định hướng các TCTD (văn bản chỉ đạo, Hội nghị, cuộc họp); (ii) Tích cực triển khai các chương trình tín dụng hỗ trợ sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng và đầu tư các dự án theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ như Chương trình tín dụng đối với lĩnh vực nông, lâm, thủy sản, Chương trình cho vay liên kết sản xuất chế biến và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo chất lượng cao và phát thải thấp vùng ĐBSCL, Chương trình tín dụng đầu tư hạ tầng điện, giao thông và công nghệ chiến lược, Chương trình cho vay nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, dự án cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ theo Nghị quyết 33/NQ-CP của Chính phủ,…
Thứ tư, NHNN đã kịp thời triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho nền kinh tế, đặc biệt là chính sách cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ đối với khách hàng gặp khó khăn (như dịch Covid-19, thiên tai, khó khăn trong sản xuất kinh doanh do ảnh hưởng kinh tế thế giới...), tạo điều kiện cho 1,3 triệu khách hàng được cơ cấu nợ với giá trị nợ gốc, lãi khoảng 1 triệu tỷ đồng; chỉ tính riêng giai đoạn dịch Covid-19, các TCTD đã giảm lãi cho khách hàng khoảng 50 nghìn tỷ đồng.
NHNN cũng đẩy mạnh triển khai chương trình kết nối ngân hàng – doanh nghiệp đa dạng về hình thức và quy mô trên toàn quốc và tại các địa phương nhằm nắm bắt các vướng mắc và kịp thời có giải pháp tháo gỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong quan hệ tín dụng ngân hàng.
Thứ năm, NHNN đã quyết liệt chỉ đạo công tác chuyển đổi số ngành ngân hàng, tạo sức lan tỏa mạnh mẽ đến các ngành, lĩnh vực khác trong nền kinh tế bằng cách tạo hệ sinh thái số liền mạch (thanh toán điện tử, thương mại điện tử, dịch vụ công), thúc đẩy tăng trưởng kinh tế số. Hạ tầng thanh toán được nâng cấp, đầu tư, hoạt động an toàn, hiệu quả và có khả năng kết nối, tích hợp với các hệ thống khác trong và ngoài nước, mở rộng hệ sinh thái số để gia tăng tiện ích, trải nghiệm khách hàng. Các sản phẩm, dịch vụ thanh toán mới, hiện đại, ứng dụng khoa học công nghệ phát triển đa dạng, tiện ích, tiện dụng tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp.
2. Kết quả hoạt động tín dụngVới việc triển khai đồng bộ các giải pháp nêu trên, tăng trưởng tín dụng đã đạt kết quả tích cực. Kết quả tín dụng trong giai đoạn 2021-2025 tăng trưởng tốt (bình quân tăng khoảng 15,15%/năm), đến cuối năm 2025 đạt gần 18,6 triệu tỷ đồng, tăng 19,07%. Trong đó dư nợ tín dụng đối với doanh nghiệp trong nước chiếm khoảng 48% tổng dư nợ nền kinh tế; dư nợ đối với các tập đoàn, tổng công ty chiếm khoảng 7% tổng dư nợ nền kinh tế; phù hợp với khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế, cung ứng vốn tín dụng kịp thời cho người dân, doanh nghiệp.
Cơ cấu tín dụng chuyển dịch phù hợp với cơ cấu các ngành kinh tế. Tín dụng hướng vào lĩnh vực ưu tiên, trong đó một số lĩnh vực chiếm tỷ trọng lớn như lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn (chiếm khoảng 23%); doanh nghiệp nhỏ và vừa (chiếm khoảng 19%); tín dụng đối với lĩnh vực doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao và công nghiệp hỗ trợ có tốc độ tăng trưởng cao, bình quân giai đoạn vừa qua tăng lần lượt là 17,51% và 19,91%.
Tín dụng đối với động lực tăng trưởng mới như tín dụng xanh được các TCTD quan tâm với dư nợ đạt 780 nghìn tỷ đồng. Đồng thời, cùng với các nguồn vốn khác, tín dụng ngân hàng đã cung cấp nguồn tài chính thiết yếu để triển khai nhiều dự án, công trình quan trọng, trọng điểm quốc gia của các Tập đoàn, tổng công ty góp phần thay đổi diện mạo hạ tầng của địa phương, quốc gia, nâng cao năng lực sản xuất của các doanh nghiệp Việt Nam trong các lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế như hạ tầng điện, giao thông, hàng không…, qua đó góp phần thực hiện một trong 3 đột phá chiến lược của Đảng về phát triển hạ tầng.
Cụ thể, các NHTM đã cấp tín dụng đối với nhiều dự án quan trọng, có ý nghĩa lớn đối với nền kinh tế như: Thủy điện Sơn La, Thủy điện Lai Châu, Nhà máy nhiệt điện Quảng Trạch I, đường dây 500kV Bắc – Nam, chuỗi dự án khí điện Lô B; cao tốc Trung Lương - Mỹ Thuận, cao tốc Gia Nghĩa – Chơn Thành, nâng cấp tuyến đường Pháp Vân – Cầu Giẽ, dự án Hòa Phát – Dung Quất,… Nhìn chung, nguồn vốn tín dụng ngân hàng đã đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh của các Tập đoàn, Tổng công ty, đảm bảo nguồn vốn ổn định cho các đơn vị hoạt động và hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển.
3. Bên cạnh kết quả đạt được, hoạt động tín dụng ngân hàng còn gặp một số khó khăn, thách thức, như: (i) Sức ép cung ứng vốn cho nền kinh tế của hệ thống ngân hàng vẫn lớn (tỷ lệ tín dụng/GDP khoảng 144%) trong bối cảnh thị trường tài chính phát triển chưa cân xứng, nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế - xã hội tăng cao trong khi huy động vốn từ thị trường trái phiếu doanh nghiệp, chứng khoán gặp nhiều khó khăn, chưa phát huy vai trò là kênh cung ứng vốn trung – dài hạn chủ yếu của nền kinh tế; (ii) Nhu cầu vốn trung, dài hạn cho các dự án, công trình trọng điểm quốc gia là rất lớn, tạo áp lực cho các TCTD trong cung ứng vốn tín dụng để thực hiện dự án cũng như rủi ro kỳ hạn cho các TCTD do nguồn vốn chính để các TCTD thực hiện cho vay chủ yếu là tiền gửi có kỳ hạn ngắn (chiếm 80% tổng tiền gửi của các TCTD); (iii) Một số chương trình tín dụng đối với ngành, lĩnh vực còn gặp khó khăn trong quá trình triển khai như Chương trình cho vay nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, cải tạo xây dựng lại chung cư cũ theo Nghị quyết 33/NQ-CP của Chính phủ khó khăn do nguồn cung nhà ở xã hội còn hạn chế.
Việc cấp tín dụng đối với các Tập đoàn kinh tế còn gặp một số khó khăn như: (i) Các Tập đoàn thường có quy mô lớn và tính chất đa ngành, các dự án triển khai thuộc nhiều lĩnh vực như bất động sản, năng lượng, hạ tầng, công nghiệp chế biến…, đòi hỏi các ngân hàng phải có hiểu biết chuyên sâu đa ngành để đánh giá hiệu quả đầu tư, khả năng hoàn vốn cũng như các yếu tố rủi ro đặc thù nên tạo áp lực lớn đối với việc thẩm định của các TCTD. Bên cạnh đó, các dự án này thường có thời gian thu hồi vốn dài, chịu tác động mạnh của các yếu tố như quy hoạch, chính sách đất đai, giá nguyên vật liệu hoặc biến động lãi suất nên tiềm ẩn rủi ro tín dụng; (ii) Một số Tập đoàn Nhà nước còn tồn tại tình trạng quản trị chưa theo kịp chuẩn mực thị trường, hiệu quả sử dụng vốn thấp, đầu tư dàn trải, chậm đổi mới công nghệ và năng lực cạnh tranh còn hạn chế. Điều này đã tác động trực tiếp đến hoạt động tín dụng, khi các TCTD phải đối mặt với rủi ro nợ xấu cao hơn, đồng thời gặp khó khăn trong việc thẩm định và quyết định cấp tín dụng dựa trên nguyên tắc thị trường; (iii) Việc các TCTD tập trung cấp tín dụng quá lớn đối với các Tập đoàn kinh tế tiềm ẩn nguy cơ gia tăng nợ xấu, giảm thanh khoản, ảnh hưởng đến an toàn hệ thống khi khách hàng hoặc nền kinh tế gặp khó khăn,…
4. Trong bối cảnh trên, để nguồn vốn tín dụng ngân hàng hỗ trợ cho các Tập đoàn kinh tế phát triển, đồng thời góp phần hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đạt mục tiêu “hai con số” trong giai đoạn 2026-2030, NHNN sẽ tiếp tục đẩy mạnh triển khai các giải pháp tín dụng bám sát các chủ trương, định hướng, chỉ đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, cụ thể:
- Tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện cơ chế, chính sách trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối nhằm mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, tiệm cận với thông lệ quốc tế, minh bạch, an toàn cho TCTD. Bám sát diễn biến, tình hình kinh tế thế giới và trong nước để điều hành CSTT chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác nhằm giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Điều hành lãi suất, tỷ giá phù hợp với diễn biến tình hình kinh tế vĩ mô, lạm phát và mục tiêu CSTT.
- Thực hiện các giải pháp tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, lạm phát, đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng, phù hợp với khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế nhằm góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Chỉ đạo các TCTD: (i) Hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng kinh tế,...theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; (ii) Đa dạng hóa sản phẩm tín dụng ngân hàng phù hợp từng loại hình, nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; chú trọng đầu tư tín dụng vào các dự án, công trình trọng điểm, khả thi phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; (iii) Tích cực triển khai các chương trình, chính sách tín dụng theo chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp; (iv) Chuyển đổi số tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng (trong đó có doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế) tiếp cận nguồn vốn tín dụng và dịch vụ ngân hàng.
- Tích cực tổ chức triển khai thực hiện các Nghị quyết, chủ trương, chính sách lớn của Đảng (về tam nông, khoa học công nghệ, chuyển đổi số, phát triển kinh tế tư nhân, y tế, giáo dục, năng lượng…); trong đó, đầu mối phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định về hỗ trợ lãi suất 2%/năm cho các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh vay vốn để thực hiện các dự án xanh, tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG).
- Tiếp tục triển khai các giải pháp đẩy mạnh chuyển đổi số, hoàn thiện cơ sở dữ liệu chuyên ngành; cải cách thủ tục hành chính và dịch vụ công trực tuyến; thanh toán không dùng tiền mặt và bảo đảm an ninh, an toàn trong hoạt động ngân hàng. Nghiên cứu triển khai các mô hình, công nghệ thanh toán mới, thanh toán xuyên biên giới.
- Tăng cường công tác thanh tra, giám sát; phòng, chống, ngăn ngừa vi phạm pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng; cơ cấu lại hệ thống các TCTD.
5. Bên cạnh các giải pháp của ngành ngân hàng, rất cần các nhóm giải pháp khác nhằm tạo môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, môi trường kinh doanh thông thoáng để hỗ trợ doanh nghiệp, TĐKT phát huy được các thế mạnh của mình, đóng góp cho mục tiêu tăng trưởng hai con số của cả nước là rất quan trọng, cụ thể:
Thứ nhất, tháo gỡ căn bản các rào cản về thể chế, khơi thông và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong toàn nền kinh tế, qua đó thúc đẩy các động lực tăng trưởng của nền kinh tế.
Thứ hai, đẩy mạnh phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp và thị trường chứng khoán theo hướng minh bạch, an toàn, bền vững, nhằm tăng khả năng huy động vốn trung và dài hạn, từng bước giảm sự phụ thuộc của nền kinh tế vào tín dụng ngân hàng; cùng với đó là đa dạng hóa nguồn lực đầu tư đối với các dự án lớn, công trình trọng điểm quốc gia (kết hợp nhiều nguồn lực như ngân sách nhà nước, vốn tư nhân, hợp tác công – tư và các nguồn vốn dài hạn khác).
Thứ ba, đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Thứ tư, phát huy vai trò của thị trường trong nước, thúc đẩy tiêu dùng và xuất khẩu, mở rộng thị trường, nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Thứ năm, tăng cường quản trị rủi ro, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đẩy mạnh đối ngoại và hội nhập kinh tế; đồng thời chú trọng an sinh xã hội và bảo vệ môi trường.
Thứ sáu, tiếp tục thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ các nút thắt trong đầu tư, kinh doanh để tăng khả năng hấp thụ vốn tín dụng của nền kinh tế, tạo điều kiện cho các TCTD có định hướng đầu tư tín dụng cho các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế phù hợp.
Các nhóm giải pháp này, kết hợp với việc triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp thúc đẩy phát triển khoa học, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải cách thể chế, phát triển khu vực doanh nghiệp, văn hóa, đảm bảo an ninh năng lượng, chủ động hội nhập quốc tế theo tinh thần các Nghị quyết trụ cột (Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, Nghị quyết 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, Nghị quyết 70-NQ/TW về đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn 2045, Nghị quyết 71-NQ/TW về giải pháp đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Nghị quyết 72-NQ/TW về một số giải pháp đột phá tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, Nghị quyết 79-NQ/TW về phát triển kinh tế Nhà nước, Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam) một khi được triển khai đồng bộ và phát huy tác động tích cực trong thực tiễn, kết hợp với nội lực và sự sáng tạo của mỗi doanh nghiệp, mỗi doanh nhân, tập đoàn kinh tế sẽ giúp khơi thông các nguồn lực, tạo ra động lực mới quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, hỗ trợ tích cực cho mục tiêu phấn đấu tăng trưởng kinh tế hai con số cho giai đoạn 2026-2030.
Tạp chí Nhà đầu tư tổ chức Hội thảo "40 năm Đổi mới: Vai trò dẫn dắt của các tập đoàn kinh tế"
Nhằm tạo diễn đàn để các nhà hoạch định chính sách, các chuyên gia và cộng đồng doanh nhân cùng nhìn lại chặng đường 40 năm Đổi Mới, đánh giá vai trò dẫn dắt và khuyến nghị chính sách phát triển mạnh mẽ các tập đoàn kinh tế, ngày 13/4 tại Hà Nội, Tạp chí Nhà đầu tư tổ chức Hội thảo "40 năm Đổi mới: Vai trò dẫn dắt của các tập đoàn kinh tế".Hội thảo có sự tham dự của đại diện lãnh đạo các Bộ, Ban, Ngành Trung ương, hiệp hội, các chuyên gia kinh tế - tài chính - pháp luật, lãnh đạo các ngân hàng thương mại, tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp trong nước.
Sự kiện được tường thuật trên Tạp chí điện tử Nhadautu.vn và ấn phẩm tiếng Anh Theinvestor.vn.























