CỔNG THÔNG TIN VÀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
Một năm trước Đổi Mới, khi Việt Nam vẫn còn đang bị bao vây cấm vận, một Việt kiều mang hộ chiếu Mỹ bất ngờ được giao nhiệm vụ mở đường bay đầu tiên giữa Việt Nam và Philippines.
Sau hơn 40 năm, “người mở đường” ấy vẫn nhớ như in lời một vị lãnh đạo cấp cao đã nói: “Nếu Hạnh Nguyễn là CIA thật, mà đem tiền về đây mở đường bay, phát triển kinh tế thì tôi hoàn toàn ủng hộ!”.
Không chỉ là người được chọn cho "sứ mệnh” mở đường bay trong những năm đầu Đổi Mới, doanh nhân Johnathan Hạnh Nguyễn - Chủ tịch tập đoàn Liên Thái Bình Dương (IPP) - còn là Việt kiều hiếm hoi trực tiếp đặt cược vào Việt Nam ngay từ những năm tháng vô cùng gian khó.
Việt Nam những năm đầu Đổi Mới - trong con mắt nhà đầu tư - là một nền kinh tế thiếu thốn, bị cô lập, nhưng với ông Hạnh Nguyễn, đây là mảnh đất quê hương. Và khi đó, quê hương đang cần những người dám trở về, dám đánh đổi và dám đặt niềm tin vào tương lai đất nước.
Năm 1984, khi đang làm thanh tra tài chính cho Boeing Subcontractors tại Mỹ, ông Johnathan Hạnh Nguyễn bất ngờ nhận được cuộc gọi từ Văn phòng đại diện Việt Nam tại Liên Hợp Quốc. Nội dung cuộc gọi rất đơn giản: mời ông về Việt Nam thăm gia đình sau hơn 10 năm xa quê hương.
Tết năm đó, ông đưa vợ con về Nha Trang rồi ra Hà Nội theo lời mời của Văn phòng Chính phủ. Tại cuộc gặp với Thủ tướng Phạm Văn Đồng, ông được đề nghị tham gia một nhiệm vụ đặc biệt: tìm cách mở đường bay giữa Việt Nam và Philippines.
Đầu thập niên 1980, trong bối cảnh Việt Nam vẫn chịu lệnh cấm vận của Mỹ, cả nước gần như chỉ có hai cửa ngõ hàng không quốc tế là tuyến Việt Nam - Moscow và tuyến Việt Nam - Bangkok (theo hình thức thuê chuyến). Việc mở thêm một đường bay quốc tế được xem là nhiệm vụ cấp bách nhưng cũng vô cùng khó khăn.
Phía Việt Nam trước đó đã nhiều lần tìm cách tiếp xúc với Philippines qua kênh ngoại giao nhưng không nhận được phản hồi. Philippines khi đó là một trong những đồng minh thân cận nhất của Mỹ tại Đông Nam Á.
Bộ Ngoại giao đã rà soát nhiều trường hợp Việt kiều ở nước ngoài và nhận thấy ông Johnathan Hạnh Nguyễn là một trong số rất ít người vừa làm việc trong lĩnh vực hàng không, vừa có mối liên hệ gia đình với Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos.
Để thực hiện nhiệm vụ, ông Hạnh Nguyễn thành lập Công ty PHL Impex International - tiền thân của Tập đoàn Liên Thái Bình Dương (IPP) - làm đối tác với Vietnam Airlines và bắt đầu hành trình vận động phía Philippines chấp thuận việc mở đường bay giữa hai nước.
Đó là ngày mà tôi không bao giờ quên.
Để mở đường bay, theo đúng quy trình, tôi phải cầm hồ sơ đi qua đủ 12 bộ ngành của Philippines, từ các cơ quan an ninh, kinh tế, thương mại cho tới hàng không... Tổng cộng cần 12 chữ ký. Việt Nam đang bị Mỹ cấm vận, trong khi Tổng thống Marcos trước đó đã có chủ trương không tiếp nhận những đề nghị liên quan đến việc mở đường bay với Việt Nam, nên ai cũng dè dặt.
Tôi phải nhờ tới gia đình bên vợ lúc đó. Thông qua Tina (vợ đầu của ông Johnathan Hạnh Nguyễn - là cháu của bà Imelda Marcos - phu nhân Tổng thống), tôi nhận được sự trợ giúp của bà Leita - Trợ lý của Tổng thống Marcos và cũng là em vợ của Tổng thống - để có cơ hội tiếp cận Tổng thống. Nhưng không phải muốn gặp là có thể gặp, phải đợi đúng lúc Tổng thống có tâm trạng tốt, tôi mới dám trình hồ sơ.
Hôm đó khoảng 7 giờ 30 tối, bà Leita gọi điện nói: "Ông vào liền đi. Hôm nay Tổng thống đang vui".
Tôi lập tức chạy qua Đại sứ quán gặp anh Trần Tiến Vinh (Đại biện lâm thời của Việt Nam tại Philippines) rồi cùng vào Dinh Tổng thống. Khi tôi mang bộ hồ sơ vào trình trên bàn Tổng thống Marcos, ông lướt rất nhanh rồi ký ngay vào đó “Approve - ngày 4/9/1985”.
Sau này ông Hạnh mới biết, thời điểm đó phe đối lập tại Philippines nổi lên muốn đảo chính. Còn Mỹ thì đang cố gắng gây sức ép lên chính quyền Tổng thống Marcos nên ông ấy đang trong tâm thế không hài lòng với Mỹ. Có thể vì thế, khi ông Hạnh xin mở đường bay cho Việt Nam thì ông Marcos đồng ý luôn.
Nhiều người nói tôi là người mở đường, nhưng tôi luôn cho rằng người có ơn lớn nhất trong câu chuyện này chính là Tổng thống Marcos.
Khi có được văn bản chấp thuận của Tổng thống, gặp anh Trần Tiến Vinh, tôi nói: Xong rồi anh nhé, nhiệm vụ đã hoàn thành. Ông Vinh ôm chầm lấy tôi và khóc. Ông nói với tôi: "Hạnh, hôm nay, em là anh hùng của dân tộc".
Sau này, tôi được biết, Bộ Chính trị đã chờ cả đêm đó. Khi nghe tin đã lấy được chữ ký của Tổng thống Marcos, mọi người vỡ òa vì hiểu rằng cánh cửa đầu tiên để Việt Nam kết nối với thế giới bên ngoài cuối cùng đã được mở ra.
Thực ra ban đầu, phía Việt Nam vẫn có đâu đó những ngờ vực. Cũng dễ hiểu vì tôi là Việt kiều Mỹ, chắc chắn sẽ có những dấu hỏi, liệu tôi có phải là người được CIA cài cắm vào vì có mục đích khác không?
Nhưng một vị lãnh đạo cấp cao của TP. HCM lúc đó đã rất kiên quyết. Ông nói: "Nếu Hạnh Nguyễn là CIA, mà anh ta đem tiền về đây, để mở cửa đường bay, phát triển kinh tế, tôi hoàn toàn ủng hộ”.
Nhìn lại toàn bộ câu chuyện, ngoài ơn rất lớn của Tổng thống Marcos, tôi cũng luôn biết ơn những người đã tin tưởng và ủng hộ, ông Nguyễn Văn Linh (nguyên Tổng Bí thư), ông Phạm Văn Đồng (nguyên Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng), lãnh đạo Thành phố thời điểm đó… và còn một người rất quan trọng nữa.
Bởi Trung ương đồng ý là một chuyện, nhưng thực hiện cần có sự phối hợp của thành phố. Và đặc biệt, phía an ninh có tạo điều kiện hay không, có thúc đẩy hay không?
Người thúc đẩy việc đó chính là ông Tô Lâm (nay là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm). Ông Tô Lâm là một trong những người đã tích cực ủng hộ quá trình đó, tất nhiên dưới sự giám sát của an ninh.
Tôi luôn trân trọng những người lãnh đạo dám quyết, dám làm và dám chịu trách nhiệm. Bởi vì nếu ở trên đã đồng ý mà ở dưới cứ tiếp tục nghi ngờ, tiếp tục trì hoãn, tiếp tục yêu cầu xem xét thêm thì mọi việc sẽ bế tắc.
Vài năm về sau, có một anh an ninh đã đến văn phòng tôi ở 202 Hoàng Văn Thụ (Văn phòng đại diện Công Ty Imex Pan Pacific thời điểm đó - PV), thông báo: “Báo cáo anh, kể từ giờ phút này, chúng tôi ngừng theo dõi!”.
Sau tất cả, những điều tôi làm đã chứng minh tôi là người thật việc thật, vô đây không phá hoại, mà để đóng góp cho quê hương.
Sau khi mở đường bay, lỗ ngay 5 triệu đô, là các bác gọi tôi lên liền và động viên tôi: “Con cố gắng không buông”.
Tôi lỗ các bác biết, vì an ninh báo cáo hết. Đường bay chỉ chở hàng hóa, vì hồi đó xin một lần visa mất cả năm, làm cuốn hộ chiếu cũng rất lâu mới có, nên đâu có hành khách, mỗi chuyến cùng lắm chỉ có 5-7 người. Trong khi vẫn phải trả tiền thuê máy bay 32.000 đô la một chuyến, 100 chuyến là tôi mất hơn 3 triệu đô rồi.
Nhưng vẫn phải duy trì chuyến bay thường lệ, nếu không, e rằng phía Philippines sẽ đóng cửa đường bay.
Thật ra tôi cũng đã có lúc nghĩ đến chuyện quay về khi đã hoàn thành nhiệm vụ, vì lỗ 5 triệu đô, đâu phải chuyện giỡn? Nhưng một ký ức trước đó về Việt Nam, đã giữ chân tôi lại.
Lần đầu tiên về Việt Nam theo lời mời của Chính phủ, hai đứa con tôi sốt cao phải nhập viện. Gặp một bác sĩ quen của gia đình trong Nha Trang, anh ấy trách tôi: “Anh hết đường hay sao mà đưa con về lúc này. Thuốc hạ sốt còn không có chứ đừng nói thuốc điều trị”. Tôi hỏi giờ bệnh viện không có thuốc hạ sốt thì bệnh nhân phải làm sao?
Bác sĩ nói chỉ có cách dùng biện pháp dân gian, mua chanh về rồi chà cho hạ sốt. May mắn là con tôi không phải sốt xuất huyết hay sốt rét, và hôm sau hạ sốt, nhưng tôi còn nhớ như in tiếng một người mẹ ở phòng bệnh bên cạnh gào lên giữa đêm: “Anh ơi, con chết rồi”. Câu nói đó ám ảnh tôi cho đến tận bây giờ.
Tôi nghĩ đến hoàn cảnh lúc đó và tự hỏi, nếu tôi về Mỹ thì gia đình tôi, các con tôi vẫn an toàn, nhưng còn hàng triệu đứa trẻ khác thì sao?
Chính khoảnh khắc đó làm tôi thay đổi suy nghĩ và tiếp tục ở lại.

Khó khăn lắm. Việt Nam lúc đó thiếu thốn vô cùng, đến cái xe đẩy bánh mì thịt cũng khó kiếm chứ đừng nói chuyện làm ăn lớn. Bây giờ kể lại nghe như chuyện đùa, nhưng thời đó là sự thật.
Mở được đường bay không có nghĩa là nhiệm vụ của tôi ở Việt Nam kết thúc. Việt Nam còn thiếu đủ thứ, từ vật tư y tế, vật liệu xây dựng đến điện và các nhu yếu phẩm phục vụ sản xuất. Tôi luôn trăn trở làm sao để những nguồn lực từ bên ngoài có thể vào được Việt Nam nhiều hơn, giúp đất nước từng bước vượt qua giai đoạn khó khăn đó.
Sau 3 năm mở đường bay, tôi đề xuất Chính phủ cấp visa, hộ chiếu cho khách ra vào Việt Nam, vì nếu chỉ chở hàng hóa thì không doanh nghiệp nào chịu nổi thua lỗ.
Sau khi Chính phủ chấp thuận, việc mà tôi làm ngay khi đó là vào các trại tị nạn của người Việt ở Philippines - để nói với họ rằng giờ không cần vượt biên nữa. Lúc đó cũng căng lắm, vì có những người đã nghe về tôi và biết tôi là người của Việt Nam, còn tính “xử” tôi nữa. Nhưng tôi nghĩ mình phải đi. Nếu không nói rõ thì người ta vẫn tiếp tục vượt biên và thiệt mạng oan vì nạn hải tặc.
Tôi nói với bà con rằng bây giờ đã có một con đường khác. Những ai có nhu cầu đoàn tụ gia đình thì đăng ký danh sách, tôi sẽ cố gắng làm việc để mọi người được xuất cảnh chính thức.
Sau này chương trình Ra đi có trật tự (ODP) được triển khai, nhiều gia đình đã có cơ hội đoàn tụ theo con đường hợp pháp. Cùng với sự hỗ trợ của luật sư Mỹ, tôi cũng tìm cách đưa được nguồn hàng hóa, vật tư, thuốc men do Việt kiều gửi về cho người thân.
Tôi đã sống và làm kinh tế ở nước ngoài, nên tôi biết đất nước đang thiếu gì, cần gì. Đầu tiên là tôi nhập đèn, nhập máy phát điện về trước. Trên máy bay mà chở toàn máy phát điện, sợ nổ gần chết! Dặn đi dặn lại người bán chắc chắn là không có bỏ xăng vô nghe (cười).
Sau này, tôi mới dần bớt lỗ và bắt đầu có lời từ làm kinh tế khi Việt Nam có Luật Đầu tư nước ngoài, với hai ngành hàng không và hàng hiệu.
Tôi thấy bây giờ chúng ta mạnh dạn hơn nhiều. Giai đoạn Đổi Mới lần đầu, chúng ta đã có những lãnh đạo "nói và làm". Lần này, thậm chí không phải chỉ nói và làm nữa, mà làm là “tới bến” luôn. Tôi rất mừng vì điều đó.
Tôi theo dõi kỹ lắm. Ngày nào cũng đọc thời sự, đọc kinh tế. Nhìn tình hình bây giờ, tôi thấy đúng là thời của đất nước rồi!
Trong khi nhiều nước trên thế giới bị ảnh hưởng bởi chiến sự Trung Đông, kinh tế khó khăn, nhiều nơi kiệt quệ, thì riêng Việt Nam tôi vẫn thấy người ta tới đầu tư, tới kinh doanh. Người ta vẫn bỏ tiền vào đây làm ăn.
Sản xuất đang đi lên. Muốn đi lên mạnh hơn nữa thì phải quyết liệt hơn. Trước hết là phải thúc đẩy dòng tiền vào sản xuất kinh doanh chứ không phải đẩy vào đất đai. Tạo điều kiện cho doanh nghiệp làm ăn, người ta có lãi. Có lãi rồi thì tự nhiên người ta sẽ đầu tư tiếp.
Tôi rất muốn Việt Nam có thể làm được hai mô hình sau.
Thứ nhất là trung tâm tài chính quốc tế. Tôi đề xuất ý tưởng này từ năm 2016. Với hơn 40 năm kinh nghiệm kinh doanh ở Việt Nam, tôi hiểu rằng chúng ta không thể chỉ dựa vào nguồn lực trong nước. Muốn phát triển nhanh thì phải thu hút được dòng vốn quốc tế quy mô lớn.
Tôi đã từng mời nhiều nhà đầu tư lớn, họ sẵn sàng mang nguồn vốn hàng chục tỷ USD vào Việt Nam, thậm chí sẵn sàng đào tạo nhân lực, vận hành hệ thống mà không yêu cầu Nhà nước phải bỏ tiền hỗ trợ. Thế nhưng từ lúc đề xuất đến nay đã gần 10 năm, dự án mới bắt đầu được nghiên cứu cơ chế thực hiện. Nhưng nếu không phải tôi, mà là người khác làm được thì tôi cũng rất mừng vì điều đó tốt cho đất nước.
Thứ hai là khu phi thuế quan gắn với mô hình factory outlet, trung tâm mua sắm hàng hiệu và cửa hàng miễn thuế. Đây là điều tôi theo đuổi nhiều năm nay, nghiên cứu kỹ mô hình của Singapore và Thái Lan.
Điều tôi đang hướng tới không chỉ là mở thêm cửa hàng mà là xây dựng một hệ sinh thái mua sắm hoàn chỉnh theo mô hình factory outlet quốc tế. Muốn làm được điều đó phải có quỹ đất đủ lớn, có bãi đậu xe, khu ăn uống, khu nghỉ ngơi và các dịch vụ phục vụ hàng triệu du khách.
Tôi vẫn cho rằng Việt Nam đang ở trong chu kỳ phát triển rất tốt. Nếu quyết liệt hơn trong cải cách, thúc đẩy sản xuất thay vì để dòng tiền chảy quá nhiều vào đất đai, thì sức bật của nền kinh tế sẽ còn lớn hơn nữa.

“
Nhìn tình hình bây giờ, tôi thấy đúng là thời của đất nước rồi!
”
Là tôi đã giữ được uy tín. Uy tín trước hết ở việc tôi đã hoàn thành nhiệm vụ mở đường bay, sau đó là uy tín mà tôi giữ được trong suốt 40 năm kinh doanh tại Việt Nam.
Trong ngành hàng không, tôi luôn làm rất chặt chẽ, không dây mơ rễ má, tư lợi cá nhân, đúng quy định pháp luật, đảm bảo mang lại lợi ích cho ngành hàng không nói chung và cho các đơn vị cùng hợp tác. Chính vì vậy mà các doanh nghiệp nhà nước, đơn vị trong ngành hàng không ngày càng tin tưởng và tiếp tục hợp tác.
Trong lĩnh vực hàng hiệu, điều tôi vui nhất là các đối tác quốc tế vẫn tiếp tục tin tưởng mình sau hàng chục năm hợp tác. Họ nói với tôi rằng, họ đã không chọn lầm người. Vừa mới hôm qua, chúng tôi họp và họ nói sẽ tiếp tục giới thiệu thêm nhiều thương hiệu mới nữa. Hiện nay chúng tôi đã có 138 thương hiệu quốc tế và đang hướng tới con số 200.
Khi đối tác xác nhận tiếp tục ký hợp đồng thêm 10 năm nữa, tôi nói vui với họ: ông gặp tôi chừng 4 năm nữa là tôi về hưu rồi. Nhưng họ nói không vấn đề, họ vẫn rất tin tưởng IPP. Đó là niềm hãnh diện lớn nhất của tôi.
Khi không còn giữ chức Chủ tịch Tập đoàn nữa, giao lại hết tất cả cho bà xã và các con, tôi sẽ tiếp tục con đường làm từ thiện. Bệnh viện Nhi đồng 2 là nơi tôi đã chọn gắn bó.
Một năm 3-4 lần tôi xuống đó. Vừa rồi tôi tặng mỗi cháu một phần quà, đồng thời hỗ trợ Ban Giám đốc bệnh viện để mua thuốc hiếm cho các bệnh nhi.
Điều làm tôi xúc động nhất không phải là số tiền mình cho đi. Mới đây, khi tôi vừa bước vào bệnh viện, các cháu đã chạy tới ôm, gọi "ông ngoại" và hát bài Happy birthday vì biết là sinh nhật tôi.
"Tiền không mua được chuyện đó."
Tôi thấy cuộc đời mình đã hoàn hảo rồi. Mong muốn giúp người tôi đã làm được. Về sự nghiệp tôi cũng đã xây dựng được nền tảng chắc chắn, vì làm ăn cái tâm quan trọng, có tâm thì không ai phá mình được hết. Nhưng nếu trời cho sức khỏe ngày càng tốt thì tôi vẫn cống hiến thôi (cười).
Cảm ơn chia sẻ của ông!






















