CỔNG THÔNG TIN VÀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
Rạng sáng 3/1 (giờ Mỹ), Washington mở chiến dịch kéo dài 2 giờ 20 phút tại thủ đô Caracas của Venezuela, tấn công các căn cứ quân sự trọng yếu và bắt Tổng thống Venezuela Nicolas Maduro.
Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), Venezuela là quốc gia sở hữu trữ lượng dầu lớn nhất thế giới, khoảng 303 tỷ thùng dầu thô, tương đương gần 20% trữ lượng toàn cầu,
Tuy nhiên, trái ngược với những lo ngại, giới phân tích quốc tế lại đang vẽ nên một bức tranh khá bình thản, thậm chí là "giảm giá" cho thị trường dầu mỏ.
Còn tại Việt Nam, các chuyên gia cho rằng, ngành dầu khí đang bước vào một chu kỳ đầu tư sôi động nhờ các động lực nội tại, được củng cố bởi hành lang pháp lý mới, trong bối cảnh sản lượng khai thác giảm gần 50% trong 14 năm qua.

NHỮNG DỰ BÁO TỪ SỰ KIỆN TẠI VENEZUELA
Ngay sau khi thông tin về chiến dịch quân sự của Mỹ tại Caracas được công bố, các chuyên gia hàng đầu đều đồng thuận rằng tác động thực tế lên giá dầu sẽ rất hạn chế.
Ông Arne Lohmann Rasmussen, nhà phân tích từ A/S Global Risk Management, dự báo giá dầu Brent có thể chỉ tăng khoảng 1-2 USD, hoặc thậm chí ít hơn. Đồng quan điểm, bà Vandana Hari, Giám đốc điều hành Vanda Insights, cho rằng tác động tức thì lên thị trường là không lớn, chủ yếu chỉ là sự gia tăng nhẹ phần bù rủi ro.
Lý giải cho sự bình thản này, ông Vijay Valecha từ Century Financial và các chuyên gia tại Rystad Energy chỉ ra rằng dù Venezuela sở hữu trữ lượng dầu lớn nhất thế giới, quốc gia này hiện chỉ đóng góp chưa đến 1% vào dòng chảy thương mại toàn cầu (khoảng dưới 1 triệu thùng/ngày). Trong bối cảnh thị trường đang dư cung và nhu cầu yếu đầu năm, sự gián đoạn này (nếu có) là không đáng kể,.
Về dài hạn, sự kiện này thậm chí được coi là một yếu tố gây áp lực giảm giá dầu. Ông Robin Mills, CEO của Qamar Energy, nhận định diễn biến này mang tính "giảm giá" vì khả năng Venezuela sẽ mở rộng xuất khẩu nếu môi trường chính trị thay đổi.
Đặc biệt, tuyên bố của Tổng thống Mỹ Donald Trump về việc đưa các tập đoàn dầu khí lớn của Mỹ vào đầu tư hàng tỷ USD để tái thiết hạ tầng năng lượng Venezuela, đã mở ra kỳ vọng về nguồn cung mới. Ông Saul Kavonic từ MST Financial ước tính xuất khẩu của Venezuela có thể đạt tới 3 triệu thùng/ngày trong trung hạn nếu các lệnh trừng phạt được dỡ bỏ.
ĐIỀU QUAN TRỌNG LÀ TÌNH HÌNH DƯ CUNG CỦA THỊ TRƯỜNG
Trước khi diễn ra sự việc tại Venezuela, các dự báo cho năm 2026 đều nghiêng về kịch bản giá dầu thấp. World Bank và IEA đều cảnh báo về tình trạng dư cung khi nguồn cung từ các nước ngoài OPEC+ (đặc biệt là Mỹ) tăng mạnh.

Báo cáo chiến lược 2026 của CTCK SHS đã mô tả lại tình trạng dư cung của ngành dầu khí toàn cầu như sau: Thị trường dầu mỏ trong giai đoạn 2025 đến 2026 nghiêng nhiều về trạng thái cung vượt cầu, khiến giá dầu khó có được một đợt tăng nóng kéo dài, trừ khi xuất hiện những cú sốc đặc biệt.
Trong năm 2025, nhu cầu dầu toàn cầu tăng rất chậm, khi IEA trước đó dự báo mức tăng chỉ khoảng 700 nghìn thùng mỗi ngày, thấp nhất kể từ năm 2009 nếu không tính năm khủng hoảng 2020. Trung Quốc, động lực chính của tăng trưởng nhu cầu dầu suốt hai thập kỷ, cũng đang chững lại rõ rệt.
Năm 2024, nhu cầu dầu của Trung Quốc chỉ tăng khoảng 180 nghìn thùng mỗi ngày, thấp hơn nhiều so với mức tăng trung bình khoảng 500 nghìn thùng mỗi ngày của các năm trước.
Sự lan rộng của xe điện, sự phát triển của giao thông công cộng và nền kinh tế suy yếu khiến tiêu thụ xăng dầu tại Trung Quốc khó có khả năng bùng nổ trở lại. Khi cầu yếu, nguồn cung dầu thô trở nên dư thừa, ngay cả trong bối cảnh OPEC+ từng nỗ lực hạn chế sản lượng.

Thực tế giữa năm 2025 cho thấy điều này khá rõ, khi dù xung đột bùng lên với các cuộc không kích tại Trung Đông khiến giá Brent có thời điểm vượt 80 USD mỗi thùng, thị trường vẫn nhanh chóng hạ nhiệt khi tình trạng dư cung lộ diện.
“Nhìn sang năm 2026, nếu kinh tế thế giới chưa thực sự bứt phá, rất khó để giá dầu tăng mạnh một cách bền vững. Các yếu tố địa chính trị như chiến sự hay lệnh trừng phạt vẫn có thể tạo ra những cú sốc giá ngắn hạn, nhưng nhiều khả năng sẽ nhanh chóng lắng xuống khi cán cân cung cầu cơ bản không ủng hộ ” - SHS nhận định.
Theo CTCK này, rủi ro lớn hơn đối với giá dầu có lẽ đến từ chính nội bộ OPEC+, bởi khi giá thấp kéo dài, một số quốc gia có thể phá vỡ cam kết cắt giảm sản lượng để bán nhiều hơn nhằm cứu ngân sách, qua đó càng làm cho triển vọng tăng giá của dầu trở nên mong manh.
CHU KỲ ĐẦU TƯ MỚI CỦA NGÀNH DẦU KHÍ VIỆT NAM VỚI 25,7 TỶ USD
Trích dẫn số liệu từ PVN, CTCK ASEAN cho biết, sản lượng khai thác dầu thô trong nước đã giảm trung bình khoảng 10% mỗi năm, do các mỏ chủ lực như Bạch Hổ, Rạng Đông, Sư Tử Đen... đã bước vào giai đoạn suy kiệt sau hơn 4 thập kỷ khai thác liên tục.
Diễn biến tương tự cũng xảy ra với mỏ khí, khi sản lượng khai thác giảm với tốc độ tăng trưởng âm (CAGR) khoảng 5%/năm.
Nếu năm 2010 Việt Nam còn khai thác được 17,3 triệu tấn dầu thô, thì đến năm 2024 con số này chỉ còn khoảng 8,5 triệu tấn, tương đương mức giảm gần 50% trong vòng 14 năm.
CTCK này cho rằng, triển vọng ngành thượng nguồn đang dần cải thiện khi Việt Nam chủ động tái khởi động các dự án dầu khí quy mô lớn nhằm bù đắp nguồn cung nội địa đã suy giảm kéo dài.
Ước tính, tổng vốn đầu tư của các dự án đã và đang được tái khởi động đầu tư từ 2025 đến 2030 khoảng 25,7 tỷ USD — tương đương với mức đầu tư khoảng 8,5 tỷ USD/năm cao hơn 5,2 lần so với mức đầu tư của năm 2024. Phần lớn các dự án đang được tích cực tháo gỡ các vướng mắc và đẩy nhanh tiến độ thực hiện.

Cụ thể, dự án lớn nhất hiện nay là Lô B – Ô Môn đã hoàn thành 2/3 gói thầu EPCIC#1 và triển khai 1 phần hạng mục của gói thầu EPCIC#2. Dự án Kình Ngư Trắng hoàn thành vượt tiến độ và đã có dòng khí đầu tiên trong Q2/2025. Các dự án tiềm năng khác gồm Sư Tử Trắng và Lạc Đà Vàng cũng đang được đẩy nhanh tiến độ.
Riêng trong năm 2025, một loạt các chính sách mới đã được ban hành để tạo động lực cho ngành dầu khí.
Nghị quyết 70-NQ/TW (tháng 8/2025) nhấn mạnh tầm quan trọng của an ninh năng lượng quốc gia, xác định ngành dầu khí là một trụ cột chiến lược. Đặt mục tiêu sản lượng khí ở mức 30–35 tỷ m³/năm.
Với Nghị quyết 66.6/2025/NQ-CP (tháng 10/2025), Chính phủ đã giao cho PVN một số nhiệm vụ và quyền hạn mà trước đây thuộc Bộ Công Thương.
Thứ nhất, phát triển mỏ dầu khí. PVN phê duyệt quy hoạch tổng thể cho hầu hết các dự án phát triển mỏ dầu khí (trừ các dự án trên đất liền hoặc các dự án có cơ sở hạ tầng tích hợp đất liền–biển), cùng với các điều chỉnh cho các kế hoạch đã được phê duyệt.
Thứ hai, các mỏ khai thác sớm. PVN phê duyệt điều chỉnh khi (a) tổng mức đầu tư giảm hoặc (b) vốn đầu tư tăng không quá 10% (trừ trường hợp xây thêm giàn). Theo CTCK Vietcap, đây là thay đổi có tác động lớn nhất.
Thứ ba, kế hoạch thu dọn Mỏ. PVN phê duyệt các điều chỉnh khi dự báo chi phí chênh lệch < 20% so với mức đã được Bộ Công Thương phê duyệt.
Thứ tư, các phát hiện nhỏ. PVN có thể phê duyệt báo cáo tài nguyên/trữ lượng cho các mỏ nhỏ (trữ lượng dầu

























