CỔNG THÔNG TIN VÀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ

FDI tăng mạnh, bài toán là chất lượng dòng vốn

Invest Global 10:01 24/08/2026

Dòng vốn FDI vào Việt Nam tiếp tục tăng mạnh. Tuy nhiên, yêu cầu quan trọng hơn là dòng vốn đó mang theo công nghệ gì, tạo ra năng lực thế nào và giúp doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn ra sao để thực hiện những bước chuyển mà Nghị quyết 10-NQ/TW đặ

Tiếp tục lập những mốc tăng trưởng mới

Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 31/7/2026, đạt 38,06 tỷ USD, tăng 58% so với cùng kỳ năm trước. Dòng vốn mới tiếp tục tập trung mạnh vào sản xuất. Công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút 11,58 tỷ USD vốn đăng ký cấp mới, chiếm 55%; nếu tính cả vốn cấp mới và điều chỉnh, lĩnh vực này nhận 17,94 tỷ USD, tương đương 57%. Đáng chú ý đối với hình thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư vào hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ đạt 2,68 tỷ USD, chiếm 40,8% giá trị góp vốn. Không chỉ vốn đăng ký tăng, vốn thực hiện cũng đạt mức cao. Bảy tháng 2026, FDI thực hiện ước đạt 15,20 tỷ USD, tăng 11,8% và là mức cao nhất của bảy tháng trong 5 năm qua; riêng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 12,55 tỷ USD, tương đương 82,6% tổng vốn thực hiện.

Theo ông Richard Barnsley, Giám đốc Khối Ngân hàng Toàn cầu, HSBC Việt Nam (phụ trách khối khách hàng là các công ty đa quốc gia và công ty con của họ tại Việt Nam), FDI giữ vai trò trung tâm trong quá trình chuyển đổi kinh tế thông qua tạo việc làm, mở rộng xuất khẩu và cải thiện mức sống. Tuy nhiên, vị này lưu ý mô hình thu hút FDI để thúc đẩy xuất khẩu có những giới hạn nhất định; giai đoạn tới không chỉ cần thêm vốn mà còn phải tạo ra và giữ lại giá trị lớn hơn. Vì vậy, vấn đề quan trọng hơn là khả năng chuyển hóa dòng vốn thành năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo và mức độ lan tỏa tới doanh nghiệp trong nước.

Góc nhìn từ EuroCham cũng cho thấy khoảng cách giữa sức hấp dẫn thương mại và khả năng chuyển hóa thành dòng vốn đầu tư chất lượng cao. EuroCham đánh giá, trong khi hiệp định EVFTA giúp thương mại hàng hóa bứt phá mạnh mẽ, nhưng FDI từ châu Âu mở rộng thận trọng hơn; nhà đầu tư tiếp tục đề cao tính dự báo của môi trường pháp lý, hiệu quả hành chính và cơ chế bảo hộ pháp lý khi phân bổ vốn dài hạn.

FDI tăng mạnh, bài toán là chất lượng dòng vốn Trung tâm Vũ trụ Việt Nam tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc được xây dựng bằng nguồn vốn vay ODA của Nhật Bản

Khi thước đo chuyển từ “vốn” sang “năng lực”

Các chuyên gia nhìn nhận, Nghị quyết 10 là một bước phát triển quan trọng trong chiến lược thu hút đầu tư của Việt Nam. Mục tiêu giờ đây không còn chỉ là thu hút vốn, mà là thu hút năng lực; hiệu quả cần được nhìn từ công nghệ, phát triển nhân lực, năng lực R&D và khả năng giúp doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Cách tiếp cận này được cụ thể hóa bằng những mục tiêu có thể đo lường. Giai đoạn 2025-2030, Việt Nam hướng tới thu hút 200 - 300 tỷ USD FDI đăng ký mới và giải ngân 150 - 200 tỷ USD, trong đó khoảng ba phần tư dòng vốn đến từ các nền kinh tế phát triển. Nghị quyết cũng đặt mục tiêu đưa 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI và thu hút tối thiểu ba tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở khu vực hoặc trung tâm R&D tại Việt Nam.

Trao đổi với Thời báo Ngân hàng gần đây, ông Kobayashi Yosuke, Trưởng đại diện Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) tại Việt Nam, nhận định Nghị quyết 10 phát đi thông điệp tích cực về chuyển từ thu hút vốn theo số lượng sang dòng vốn chất lượng cao. Theo ông Kobayashi Yosuke, việc nhấn mạnh công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số có thể giúp Việt Nam dịch chuyển sang mô hình tăng trưởng bền vững, cạnh tranh hơn và tránh bẫy thu nhập trung bình.

Nhìn từ yêu cầu phát triển dài hạn, “chất lượng FDI” vì vậy không thể chỉ được đánh giá bằng quy mô dự án hay tên tuổi nhà đầu tư. Giá trị lan tỏa chỉ thực sự lớn khi dự án kéo theo chuyển giao công nghệ, tạo cơ hội cho doanh nghiệp trong nước trở thành nhà cung ứng, thúc đẩy R&D và tăng giá trị gia tăng tại Việt Nam. Nếu doanh nghiệp nội địa vẫn đứng ngoài các khâu giá trị cao, năng lực nội sinh sẽ khó được tích lũy tương xứng. Cũng từ góc độ đó, các mục tiêu rất cụ thể như phấn đấu 10.000 doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng FDI có ý nghĩa đặc biệt, bởi đây là phép thử về khả năng kết nối hai khu vực kinh tế; đồng thời cho thấy các điểm nghẽn như khoảng cách về phương thức quản trị, văn hóa doanh nghiệp hay những hạn chế về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cần được giải quyết. Có thể thấy, Nghị quyết 10 không chỉ nâng “chuẩn đầu vào” đối với nhà đầu tư mà còn đặt yêu cầu nâng năng lực hấp thụ trong nước, để vốn ngoại góp phần hình thành năng lực công nghệ, quản trị và đổi mới sáng tạo lâu dài.

Nền tảng trong nước cũng phải tốt hơn

Xét trong bối cảnh toàn cầu, cạnh tranh thu hút FDI đang thay đổi nhanh. Theo ông Richard Barnsley, các ưu đãi tài chính truyền thống ngày càng kém hiệu quả khi các quốc gia cùng cạnh tranh cho những dòng vốn có chất lượng cao. Nhà đầu tư chiến lược ngày càng quan tâm tới chất lượng thể chế, khả năng dự báo chính sách, năng lực lực lượng lao động và tốc độ cải cách. Năng suất, tự động hóa và đổi mới sáng tạo đang trở nên quan trọng hơn so với lợi thế chi phí lao động.

Điều này cũng phù hợp với đánh giá từ JICA. Ông Kobayashi Yosuke cho biết, tính dự báo chính sách là một trong những mối quan tâm lớn nhất của doanh nghiệp nước ngoài; cùng với đó, thủ tục hành chính, hạ tầng logistics và năng lượng tiếp tục là những yếu tố quan trọng. Trưởng đại diện JICA tại Việt Nam cho rằng để thu hút dự án công nghệ lõi, trung tâm R&D và dự án giá trị gia tăng cao, Việt Nam cần phát huy lực lượng lao động trẻ, đồng thời đẩy mạnh cải cách về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và giáo dục - đào tạo. Các lĩnh vực như bán dẫn, AI và liên kết đổi mới sáng tạo Việt Nam - Nhật Bản có ý nghĩa chiến lược đối với năng lực cạnh tranh dài hạn.

Một thay đổi đáng chú ý khác trong Nghị quyết 10 là chuyển từ ưu đãi dựa nhiều vào đầu vào sang cơ chế hỗ trợ gắn với kết quả và cam kết của nhà đầu tư. Theo HSBC, cách tiếp cận này đặt trọng tâm vào hoạt động R&D, chuyển giao công nghệ thực tế và phát triển năng lực nhà cung ứng thông qua đào tạo, quản lý chất lượng và cải thiện quản trị. Từ góc nhìn JICA, việc xây dựng một cơ chế giải quyết tranh chấp công bằng, minh bạch, phù hợp với các thông lệ và tiêu chuẩn quốc tế sẽ đóng vai trò then chốt trong việc bảo đảm hiệu quả của quá trình chuyển đổi từ các chính sách ưu đãi dựa trên yếu tố đầu vào sang cơ chế hỗ trợ gắn với kết quả hoạt động và việc thực hiện các cam kết của nhà đầu tư.

Trở lại với nhận định ở trên của EuroCham về sự thận trọng của dòng FDI châu Âu, yếu tố này càng nhấn mạnh lý do vì sao việc sớm phê chuẩn toàn diện Hiệp định Bảo hộ Đầu tư EU - Việt Nam (EVIPA) từ tất cả các quốc gia thành viên EU vẫn là một ưu tiên chiến lược. EVIPA được phê chuẩn đầy đủ sẽ thiết lập nền tảng pháp lý vững chắc cùng các cơ chế giải quyết tranh chấp hiện đại, qua đó tạo nền tảng vững chắc cho dòng vốn chất lượng cao từ châu Âu rót vào các lĩnh vực năng lượng sạch, hạ tầng số và sản xuất tiên tiến.

Bối cảnh mới đặt ra yêu cầu kép: duy trì sức hấp dẫn để không bỏ lỡ dòng vốn đang dịch chuyển, đồng thời nâng chuẩn lựa chọn dự án và năng lực hấp thụ trong nước. Lợi thế dài hạn phải được tạo nên từ thể chế có khả năng dự báo, hạ tầng phù hợp, nhân lực chất lượng cao và doanh nghiệp nội địa đủ sức trở thành đối tác của các tập đoàn toàn cầu.

Ông Richard Barnsley đã nói một cách hình ảnh rằng: “Đất lành chim đậu, đất tốt thì chim sẽ tìm về”. Nên nếu coi chương đầu là câu chuyện Việt Nam đã thu hút rất tốt “những cánh chim bay về” thì chương tiếp theo là “khuyến khích những đàn chim đó ở lại làm tổ”. Sau gần bốn thập kỷ thu hút FDI thành công, giai đoạn tiếp theo sẽ khó khăn hơn: biến dòng vốn quốc tế thành năng lực nội sinh. Thành công khi ấy sẽ không chỉ được đo bằng số vốn đăng ký hay giải ngân, mà bằng công nghệ được chuyển giao, năng lực R&D được hình thành, số doanh nghiệp Việt Nam bước vào chuỗi cung ứng và giá trị gia tăng được giữ lại trong nền kinh tế. Đó cũng chính là bài toán chất lượng dòng vốn mà Nghị quyết 10 đang đặt ra.

Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị, ban hành ngày 8/6/2026, tạo khuôn khổ chính sách rõ hơn cho bước chuyển từ thu hút vốn theo số lượng sang chú trọng chất lượng, hiệu quả và mức độ lan tỏa của đầu tư nước ngoài.