CỔNG THÔNG TIN VÀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
Trao đổi với Tạp chí Nhà đầu tư/Nhadautu.vn, ông Shantanu Chakraborty, Giám đốc Quốc gia ADB tại Việt Nam, cho rằng Việt Nam cần phối hợp chính sách tài khóa và tiền tệ thận trọng, đồng thời nâng chất lượng đầu tư công, tăng liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước.
Tăng trưởng cao cần đi cùng ổn định kinh tế vĩ môADB đánh giá như thế nào về triển vọng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2026-2027? Những rủi ro nào cần được theo dõi để duy trì đà tăng trưởng?
Giám đốc Quốc gia ADB tại Việt Nam: ADB đánh giá kinh tế Việt Nam năm 2026 tăng trưởng mạnh và trên diện rộng. Nền kinh tế bước vào năm nay với động lực vững, được hỗ trợ bởi sản xuất, dịch vụ, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đầu tư công, xuất khẩu và nhu cầu trong nước.
Ông Shantanu Chakraborty, Giám đốc Quốc gia ADB tại Việt Nam. Ảnh: Minh Tuấn.
Trong cập nhật Triển vọng Phát triển châu Á (ADO) tháng 9/2026, ADB nâng dự báo tăng trưởng của Việt Nam lên 7,8% trong năm 2026 và 7,6% trong năm 2027, phản ánh kết quả nửa đầu năm tốt hơn dự kiến.
Dù dự báo này có thấp hơn mục tiêu của Chính phủ, song Việt Nam vẫn là một trong những điểm sáng nhất Đông Nam Á.
Về chiều hỗ trợ tăng trưởng, giải ngân đầu tư công được đẩy nhanh, sản xuất có khả năng chống chịu, dòng vốn FDI tiếp tục mạnh mẽ, dịch vụ phục hồi và tiêu dùng trong nước sẽ là những yếu tố quan trọng. Cải cách thể chế và cải thiện môi trường kinh doanh cũng cần thiết để duy trì đầu tư tư nhân.
Tuy nhiên, Việt Nam là nền kinh tế có độ mở cao nên chịu tác động từ nhu cầu toàn cầu suy yếu, bất định về chính sách thương mại, thuế quan và các rào cản phi thuế quan, căng thẳng địa chính trị, giá năng lượng cao, gián đoạn chuỗi cung ứng, sức ép tỷ giá và điều kiện tài chính toàn cầu. Các cú sốc này có thể truyền dẫn qua xuất khẩu, chi phí logistics, đầu vào nhập khẩu, dòng vốn đầu tư, thị trường tài chính và niềm tin của doanh nghiệp.
Thách thức chính sách là duy trì tăng trưởng cao nhưng vẫn bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, chất lượng tín dụng và năng lực sản xuất trong nước.
Ở trong nước, tăng trưởng nhanh dựa vào đầu tư, nhất là khi được tài trợ quá mức bằng tín dụng ngân hàng, có thể làm gia tăng những điểm dễ tổn thương của khu vực tài chính. Tăng trưởng tín dụng cao cũng cần được theo dõi chặt chẽ, do có thể ảnh hưởng đến triển vọng tăng trưởng trong thời gian tới.
Thách thức chính sách là duy trì tăng trưởng cao nhưng vẫn bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, chất lượng tín dụng và năng lực sản xuất trong nước.
Kiểm soát lạm phát để bảo vệ dư địa tăng trưởngViệt Nam nên điều hành chính sách tiền tệ và tài khóa như thế nào để vừa kiểm soát lạm phát, vừa hỗ trợ tăng trưởng và ổn định tài chính?
Giám đốc Quốc gia ADB tại Việt Nam: ADB dự báo lạm phát của Việt Nam ở mức 4,3% trong năm 2026 và 4% trong năm 2027. Lạm phát vẫn trong tầm kiểm soát, nhưng sức ép tăng đã rõ hơn so với đầu năm, xuất phát từ nhu cầu trong nước, hoạt động đầu tư, tăng trưởng tín dụng và các yếu tố chi phí từ bên ngoài.
Ở trong nước, tăng trưởng mạnh, đầu tư công được đẩy nhanh, nhu cầu tín dụng tăng và tiêu dùng cao hơn có thể tạo thêm sức ép lên giá cả.
Về bên ngoài, Việt Nam cần theo dõi giá năng lượng, chi phí vận tải và logistics, nguyên liệu nhập khẩu, diễn biến tỷ giá và khả năng giá hàng hóa thế giới cao hơn truyền dẫn vào trong nước.
Vẫn cần kiểm soát lạm phát để duy trì tăng trưởng. Nếu kỳ vọng lạm phát tăng lên, dư địa điều hành chính sách tiền tệ sẽ thu hẹp và chi phí hỗ trợ tăng trưởng sẽ tăng. Vì vậy, Việt Nam cần tiếp tục điều hành tiền tệ linh hoạt nhưng thận trọng, hỗ trợ thanh khoản cho các lĩnh vực sản xuất, đồng thời theo dõi chặt lạm phát, tỷ giá, chất lượng tín dụng và rủi ro trên thị trường tài sản.
Chính sách tài khóa có thể đóng vai trò lớn hơn, song cần chú trọng chất lượng chứ không chỉ quy mô. Đầu tư công nên tập trung vào giao thông, logistics, năng lượng và lưới điện, hạ tầng số, thích ứng khí hậu, kỹ năng và y tế, đây là những lĩnh vực vừa hỗ trợ tổng cầu trong ngắn hạn, vừa nâng năng suất và sức cạnh tranh trong trung hạn.
Việt Nam cũng cần tăng cường theo dõi giá cả, thực hiện hỗ trợ tài khóa có mục tiêu khi cần thiết, và thúc đẩy các giải pháp phía cung để giảm điểm nghẽn về năng lượng, logistics, nguồn cung lương thực và đầu vào sản xuất.
Đánh giá FDI bằng giá trị tạo ra trong nướcViệt Nam cần làm gì để đầu tư công, FDI và đầu tư tư nhân trong nước tạo ra năng suất, đổi mới sáng tạo và giá trị gia tăng lớn hơn? Những ưu tiên nào cần được triển khai trong 12-24 tháng tới?
Giám đốc Quốc gia ADB tại Việt Nam: Việt Nam là một câu chuyện thành công trong thu hút FDI, nhưng trọng tâm cần chuyển sang giá trị gia tăng cao và phần giá trị được giữ lại trong nước. Giá trị gia tăng trong nước của khu vực FDI và nền tảng sản xuất hiện nay của Việt Nam vẫn chưa đạt mức mong muốn.
FDI vẫn rất quan trọng đối với tăng trưởng, xuất khẩu, chuyển giao công nghệ và việc làm. Tuy nhiên, ở giai đoạn tiếp theo, Việt Nam cần chú trọng hơn đến chất lượng, giá trị gia tăng trong nước, hiệu ứng lan tỏa công nghệ, phát triển kỹ năng, mua sắm từ nhà cung ứng trong nước và liên kết chặt hơn với doanh nghiệp Việt Nam.
Trọng tâm thu hút FDI cần chuyển sang giá trị gia tăng cao và phần giá trị được giữ lại trong nước.
Mục tiêu là xây dựng các hệ sinh thái năng động quanh FDI, để doanh nghiệp trong nước có thể phát triển cùng các công ty đa quốc gia.
Trong khi đó, đầu tư công không nên chỉ được đánh giá bằng tỷ lệ giải ngân, mà bằng đóng góp vào việc giảm chi phí logistics, nâng độ tin cậy của cung ứng năng lượng, tăng kết nối vùng, hỗ trợ chuyển đổi số, củng cố khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu và tạo điều kiện thu hút đầu tư tư nhân.
Ông Shantanu Chakraborty, Giám đốc Quốc gia ADB tại Việt Nam. Ảnh: Minh Tuấn.
Theo tôi, Chính phủ cần tập trung vào một số ưu tiên sau. Thứ nhất là xây dựng chương trình nâng cấp nhà cung ứng trong nước. Trong nhiều ngành xuất khẩu, doanh nghiệp Việt Nam vẫn chủ yếu tham gia các hoạt động có giá trị thấp, trong khi các khâu như thiết kế, nghiên cứu và phát triển, quản trị chuỗi cung ứng, dịch vụ chuyên biệt, tài chính, phân phối và xây dựng thương hiệu còn hạn chế.
Chương trình này cần kết hợp hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo quản trị, chứng nhận chất lượng, số hóa, nâng hiệu quả năng lượng, tuân thủ tiêu chuẩn môi trường và lao động, truy xuất nguồn gốc và tiếp cận tài chính chuỗi cung ứng.
Ưu tiên thứ hai là gắn chính sách FDI chặt hơn với chuyển giao công nghệ, kỹ năng, nghiên cứu và phát triển, cũng như liên kết trong nước. Ưu đãi đầu tư nên vượt ra ngoài quy mô vốn hoặc giá trị xuất khẩu, để khuyến khích dự án tạo việc làm kỹ năng cao, sử dụng nhà cung ứng trong nước, đầu tư nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam, đào tạo kỹ sư và nhà quản lý Việt Nam, đồng thời hỗ trợ chuyển đổi xanh và chuyển đổi số.
Mục tiêu không phải là giảm vai trò của FDI, mà là tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh hơn cho nền kinh tế trong nước.
Để thu hút đầu tư tư nhân, nhà đầu tư cần chính sách dễ dự báo, thủ tục hành chính tinh gọn, khả năng tiếp cận đất đai và hạ tầng, nguồn điện tin cậy, quy định minh bạch và khuôn khổ hợp tác công tư đáng tin cậy. Doanh nghiệp Việt Nam cũng cần được cải thiện khả năng tiếp cận đất đai, vốn dài hạn, công nghệ, lao động có kỹ năng, dữ liệu, thị trường và tiêu chuẩn quốc tế.
Năng suất và năng lực doanh nghiệp quyết định chặng đường tới thu nhập caoViệt Nam cần ưu tiên những cải cách cơ cấu nào để tăng trưởng chuyển hóa thành việc làm tốt hơn, thu nhập cao hơn và cơ hội rộng hơn, đồng thời tiến gần mục tiêu trở thành nền kinh tế thu nhập cao vào năm 2045?
Giám đốc Quốc gia ADB tại Việt Nam: Để tăng trưởng chuyển hóa thành việc làm tốt hơn và thu nhập cao hơn, Việt Nam cần đặt trọng tâm lớn hơn vào năng suất, phát triển kỹ năng và tính bao trùm. Người dân cảm nhận lợi ích của tăng trưởng qua cơ hội việc làm tốt hơn, tiền lương thực tế cao hơn, dịch vụ cải thiện và khả năng tiếp cận cơ hội kinh tế rộng hơn.
Trước hết, cần nâng cấp kỹ năng cho lực lượng lao động. Khi công nghệ, số hóa, trí tuệ nhân tạo, sản xuất xanh và sản xuất có giá trị cao hơn phát triển, người lao động cần kỹ năng kỹ thuật, kỹ năng số, ngoại ngữ, quản trị và giải quyết vấn đề tốt hơn. Cơ hội nâng năng suất không chỉ nằm ở đào tạo một nhóm nhỏ chuyên gia công nghệ cao, mà còn ở việc giúp hàng triệu người lao động sử dụng công nghệ và công cụ số hiệu quả hơn trong công việc hằng ngày.
Do phần lớn người lao động làm việc tại các doanh nghiệp trong nước, việc cải thiện quản trị, ứng dụng công nghệ, tiếp cận tài chính và liên kết thị trường có thể tác động trực tiếp đến tiền lương và chất lượng việc làm.
Tăng trưởng cũng cần đến được với các vùng và nhóm có nguy cơ bị bỏ lại phía sau thông qua đầu tư liên tục vào giáo dục, đào tạo nghề, y tế, kết nối giao thông, tiếp cận số, dịch vụ đô thị và khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu.
Năng suất cần trở thành trụ cột trung tâm của mô hình tăng trưởng trong những năm tới.
Về cải cách cơ cấu, Việt Nam cần nâng hiệu quả phân bổ nguồn lực và năng suất ở cấp doanh nghiệp. Các động lực như tích lũy vốn, dịch chuyển lao động, mở cửa thương mại, FDI và mở rộng năng lực sản xuất vẫn quan trọng nhưng không đủ cho giai đoạn phát triển tiếp theo.
Thay vào đó, năng suất cần trở thành trụ cột trung tâm của mô hình tăng trưởng. Điều này đòi hỏi tiếp tục cải cách hành chính và thể chế, bảo đảm môi trường kinh doanh minh bạch, dễ dự báo và hiệu quả hơn; giảm chi phí tuân thủ, thúc đẩy cạnh tranh công bằng và cải thiện khả năng tiếp cận đất đai, vốn, năng lượng, dữ liệu, lao động có kỹ năng và thị trường.
Chính sách đổi mới sáng tạo cũng cần hướng tới kết quả. Với nhiều doanh nghiệp, đổi mới là cải thiện quy trình sản xuất, hệ thống quản trị, công cụ số, tự động hóa, thiết kế sản phẩm, hiệu quả năng lượng và quản trị doanh nghiệp.
Đồng thời, đầu tư dài hạn cho công nghệ, hạ tầng, chuyển đổi xanh và đổi mới sáng tạo đòi hỏi thị trường cổ phiếu, trái phiếu sâu rộng hơn, nền tảng nhà đầu tư tổ chức lớn hơn và hệ thống ngân hàng có khả năng chống chịu.
Xin trân trọng cảm ơn ông!


















