CỔNG THÔNG TIN VÀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
Broadcom vừa nâng mạnh triển vọng kinh doanh chip AI sau một quý tăng trưởng đột biến. Trong quý kinh doanh kết thúc ngày 2/8, doanh thu chip AI của Broadcom đạt 16,7 tỷ USD, tăng 221% so với cùng kỳ năm trước.
Từ mức dự kiến 58 tỷ USD trong năm tài chính 2026, Broadcom cho rằng doanh thu chip AI có thể tăng lên khoảng 115 tỷ USD năm 2027 và 230 tỷ USD năm 2028. Hai mức dự báo tương đương tổng cộng 345 tỷ USD, xấp xỉ con số 350 tỷ USD được CEO Hock Tan nhắc tới khi nói về lượng chip Broadcom tin có thể giao trong hai năm.
Broadcom cho biết đã bảo đảm nguồn cung để đáp ứng triển vọng này, trong khi nhu cầu năm 2027 thậm chí đang vượt dự báo. Tuy nhiên, khả năng biến lượng chip trên thành công suất tính toán thực tế còn phụ thuộc vào địa điểm xây dựng, nguồn điện, tiến độ hoàn thiện trung tâm dữ liệu và lượng vốn đầu tư phía sau.
Nhu cầu hạ tầng tương ứng 30 GWTại cuộc họp công bố kết quả kinh doanh, Hock Tan cho biết sáu khách hàng AI của Broadcom có nhu cầu hạ tầng tính toán tương ứng khoảng 30 GW trong hai năm tài chính 2027–2028.
Để hình dung, 30 GW tương đương khoảng 12,5 lần công suất lắp đặt của Nhà máy thủy điện Sơn La, nhà máy có sáu tổ máy với tổng công suất 2.400 MW (Hiện là nhà máy thủy điện lớn nhất Việt Nam cũng như Đông Nam Á).
Phần lớn nhu cầu mà Broadcom nhìn thấy đến từ các khách hàng phát triển mô hình AI lớn như Google, Anthropic, OpenAI và Meta. Theo lộ trình, Anthropic dự kiến bổ sung 5 GW công suất trong năm 2027 và thêm 10 GW năm 2028. OpenAI có kế hoạch triển khai 1,3 GW năm 2027 và trên 5 GW năm 2028. Meta cũng có thể triển khai khoảng 3 GW đến năm 2028.
Các doanh nghiệp này không chỉ cần chip xử lý tùy chỉnh mà còn phải xây dựng toàn bộ hệ thống máy chủ, thiết bị mạng, bộ nhớ, làm mát và nguồn điện để đưa số chip đó vào hoạt động.
Áp lực vì vậy đang lan dần đến những đơn vị triển khai như Nscale. Reuters ngày 4/9 dẫn một nguồn tin cho biết nhà cung cấp hạ tầng AI này đang đàm phán huy động khoảng 3,5 tỷ USD trước kế hoạch chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng. Nscale trước đó đã ký hợp đồng sáu năm trị giá 45 tỷ USD để cung cấp năng lực tính toán cho Anthropic từ một cụm trung tâm dữ liệu tại West Virginia. Quy mô dự kiến này cho thấy ngay cả những doanh nghiệp đã có hợp đồng đầu ra lớn vẫn phải tìm thêm hàng tỷ USD để xây dựng và trang bị hạ tầng.
Đây là xu thế phát triển chung của thế giới cũng như Việt Nam, dù thị trường trung tâm dữ liệu trong nước vẫn còn khá nhỏ. Theo số liệu được công bố tại phiên họp Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tháng 5/2025, cả nước có 41 trung tâm dữ liệu thương mại với tổng công suất thiết kế 221 MW.
Chiến lược quốc gia về AI đến năm 2030, tầm nhìn 2045 đặt mục tiêu nâng năng lực tính toán của Việt Nam lên khoảng 560 EFLOPS BF16 hoặc 1.100 EFLOPS FP8, với công suất điện khoảng 500 MW. Những con số này cho thấy hạ tầng tính toán trong nước được kỳ vọng tăng nhanh, đồng thời phản ánh khoảng cách quy mô giữa thị trường Việt Nam và các cụm AI hàng đầu thế giới.
Một số dự án quy mô lớn đã bắt đầu xuất hiện. Như Viettel đang phát triển Trung tâm dữ liệu và nghiên cứu phát triển công nghệ cao Tân Phú Trung với công suất thiết kế tối đa 140 MW và khoảng 10.000 tủ máy chủ, cùng Trung tâm dữ liệu An Khánh có công suất 60 MW.
CMC cũng đã được chấp thuận đầu tư trung tâm dữ liệu tại Khu Công nghệ cao TP.HCM, với công suất giai đoạn đầu 30 MW và khả năng mở rộng lên 120 MW. Trong khi đó, G42 và liên danh FPT – Việt Thái đã ký thỏa thuận khung phát triển hạ tầng trung tâm dữ liệu tại Việt Nam, với quy mô hợp tác dự kiến lên đến 1 tỷ USD.
Các kế hoạch trên cho thấy Việt Nam đã bước vào cuộc đua mở rộng hạ tầng dữ liệu. Tuy nhiên, công suất được công bố trên giấy tờ còn một khoảng cách khá xa với thực tế triển khai. Đây cũng chính là nút thắt hạ tầng, có khả năng kìm hãm tốc độ phát triền của làn sóng AI.
Bên trong một trung tâm dữ liệu của FPT. Ảnh: FPT Telecom.Hạ tầng có thể không theo kịp tốc độ tăng trưởng AI
Chính Hock Tan cũng khá thận trọng khi nói về nhu cầu 30 GW. Theo CEO Broadcom, không chắc toàn bộ công suất này có thể đi vào hoạt động trong hai năm tài chính 2027–2028.
Trước khi chip AI được chuyển tới, khách hàng phải chuẩn bị xong công trình trung tâm dữ liệu và các điều kiện để lắp đặt thiết bị. Điều đó bao gồm mặt bằng và thủ tục xây dựng, nguồn điện, đấu nối lưới, trạm biến áp, hệ thống điện dự phòng, làm mát, tủ máy chủ và kết nối mạng.
Nói cách khác, Broadcom có thể bảo đảm nguồn cung chip nhưng không kiểm soát được toàn bộ tiến độ hạ tầng của khách hàng. Đây là lý do 30 GW nhu cầu tiềm năng không chắc chắn chuyển thành thực tế vận hành trong cùng khoảng thời gian.
Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) ước tính khoảng 20% số dự án trung tâm dữ liệu đang được lên kế hoạch có nguy cơ chậm tiến độ nếu những hạn chế của lưới điện không được giải quyết. Trong đó, riêng việc xây dựng đường dây truyền tải mới tại các nền kinh tế phát triển có thể mất từ 4 đến 8 năm. Thời gian chờ các thiết bị thiết yếu như máy biến áp và cáp điện cũng đã tăng gấp đôi trong ba năm qua.
Amazon là một trường hợp đang gặp vấn đề này tại châu Âu. Tháng 2/2026, tập đoàn cho biết thời gian chờ đấu nối điện kéo dài đang cản trở kế hoạch mở rộng trung tâm dữ liệu trong khu vực.
Theo IEA, thời gian chờ kết nối lưới điện tại các nước Liên minh châu Âu có thể dao động từ 2 đến 10 năm. Xét rộng hơn tại những cụm trung tâm dữ liệu lớn của châu Âu gồm Frankfurt, London, Amsterdam, Paris và Dublin, thời gian chờ trung bình có thể lên tới 7–10 năm!
Tại Việt Nam, kế hoạch giữa CTCP VNG (UPCoM: VNZ) và ST Telemedia Global Data Centres (STT GDC) cho thấy một dự án có thể thay đổi ngay cả khi đã có đối tác quốc tế và lịch vận hành dự kiến.
Năm 2024, hai bên công bố kế hoạch xây dựng trung tâm có tên gọi STT VNG Ho Chi Minh City 2 tại Khu chế xuất Tân Thuận. Trung tâm được giới thiệu có công suất tối đa 60 MW và dự kiến đi vào hoạt động trong nửa đầu năm 2026.
Tuy nhiên, đến tháng 8/2026, STT GDC quyết định rút khỏi dự án. VNG sau đó công bố mua lại 65% vốn tại CTCP Phát triển Phần mềm VTH, pháp nhân nắm khu đất triển khai trung tâm dữ liệu. Theo thông tin công bố, STT GDC cho rằng địa điểm không còn đáp ứng các tiêu chí đầu tư và thương mại của doanh nghiệp, trong khi thời hạn thuê đất còn lại cũng không phù hợp với yêu cầu của dự án.
Trường hợp này cho thấy ngoài nguồn điện và tiến độ xây dựng, hiệu quả thương mại, cấu trúc hợp tác và thời hạn sử dụng đất cũng có thể tác động đến khả năng triển khai hạ tầng.
Một dự án khác phản ánh rõ độ trễ giữa kế hoạch và vận hành là Trung tâm dữ liệu Quận 9 của CTCP FPT Telecom (UPCoM: FOX). Công trình được khởi công tại Khu Công nghệ cao TP.HCM vào tháng 5/2020, với diện tích 10.000 m² và sức chứa dự kiến 3.600 tủ máy chủ.
Theo kế hoạch công bố khi khởi công, dự án sẽ hoàn thành sau 305 ngày, tương ứng quý I/2021. Tuy nhiên, đến tháng 8/2025, trung tâm mới chính thức được khánh thành và đưa vào vận hành với tên FPT Fornix HCM02, muộn hơn khoảng bốn năm so với kế hoạch ban đầu.
Tuy nhiên, hoạt động đầu tư tại dự án vẫn tiếp diễn sau thời điểm khai trương. Báo cáo tài chính bán niên 2026 của FPT Telecom cho thấy chi phí xây dựng cơ bản dở dang tại Trung tâm dữ liệu Quận 9 đạt gần 443 tỷ đồng vào cuối tháng 6, tăng hơn 181 tỷ đồng, tương đương 69% so với cuối năm 2025.
Số dư xây dựng cơ bản dở dang không đồng nghĩa toàn bộ trung tâm chưa hoạt động, nhưng cho thấy quá trình đầu tư hạ tầng vẫn có thể tiếp diễn sau khi dự án đã được khai trương.
Các dự báo doanh thu chip AI có thể tăng gấp đôi chỉ sau một năm, nhưng trung tâm dữ liệu, nguồn điện và lưới truyền tải không thể được mở rộng với tốc độ tương tự. Khoảng cách giữa hai nhịp độ này sẽ quyết định bao nhiêu trong số hàng chục gigawatt nhu cầu tính toán có thể thực sự đi vào vận hành, đồng thời trở thành phép thử đối với những kế hoạch trung tâm dữ liệu đang được công bố tại Việt Nam.
AI có thể tự động hóa ngày càng nhiều công việc diễn ra trong môi trường số, nhưng hạ tầng vật lý phục vụ nó vẫn phải trải qua các bước như quy hoạch, cấp phép, xây dựng và đấu nối... Mà điều này đang bị giới hạn về tốc độ bởi khả năng tổ chức và triển khai của con người trong thế giới thực.






















