CỔNG THÔNG TIN VÀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
LỜI DẪN
Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đặt ra định hướng khuyến khích dòng vốn nước ngoài dài hạn, ổn định, có trách nhiệm.
Trong bối cảnh Việt Nam cần huy động nguồn lực lớn phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2026–2030, việc thu hút dòng vốn quốc tế không chỉ đặt ra bài toán về quy mô mà còn đòi hỏi khả năng tiếp cận các nguồn vốn dài hạn với chi phí hợp lý. Trong đó, xếp hạng tín nhiệm quốc gia là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến đánh giá rủi ro và quyết định phân bổ vốn của các nhà đầu tư quốc tế.
Theo các chuyên gia tài chính, tác động của việc nâng hạng tín nhiệm quốc gia có thể vượt ra ngoài phạm vi thị trường chứng khoán, bởi mức tín nhiệm quốc gia ảnh hưởng đến chi phí huy động vốn của Chính phủ, ngân hàng và doanh nghiệp. Việc cải thiện xếp hạng không chỉ mở rộng khả năng tiếp cận các nhà đầu tư tổ chức quốc tế, đặc biệt là những định chế có yêu cầu khắt khe về chất lượng tín dụng, mà còn có thể góp phần giảm phần bù rủi ro, qua đó cải thiện điều kiện huy động vốn và giảm chi phí vay trên thị trường quốc tế.
Ngày 8/10/2026, tổ chức xếp hạng tín nhiệm Rating and Investment Information (R&I) của Nhật Bản đã nâng xếp hạng tín nhiệm nhà phát hành bằng ngoại tệ của Việt Nam từ BB+, triển vọng tích cực, lên BBB-, triển vọng ổn định. Đây là lần đầu tiên Việt Nam được R&I đưa vào nhóm xếp hạng đầu tư (Investment Grade), đánh dấu bước tiến đáng chú ý trong việc cải thiện vị thế tín nhiệm quốc gia trên thị trường tài chính quốc tế.
Tuy nhiên, S&P Global Ratings và Fitch Ratings vẫn duy trì mức BB+, triển vọng ổn định, trong khi Moody’s giữ mức Ba2, triển vọng tích cực. Việt Nam vì thế chưa đạt ngưỡng đầu tư theo đánh giá của cả ba tổ chức xếp hạng lớn nhất thế giới.
Khoảng cách này có ý nghĩa thực tế đối với khả năng huy động vốn của Chính phủ, ngân hàng và doanh nghiệp. Khi rủi ro quốc gia còn bị đánh giá ở mức cao hơn ngưỡng đầu tư, chi phí vốn có thể tăng lên, đồng thời một bộ phận nhà đầu tư tổ chức với yêu cầu nghiêm ngặt về chất lượng tín dụng khó tham gia hoặc bị giới hạn khả năng phân bổ vốn.
Tạp chí Nhà Đầu tư xin trân trọng giới thiệu quý độc giả loạt 3 bài viết thuộc chủ đề "Nâng hạng tín nhiệm quốc gia", gồm:
Bài 1: Mở rộng cánh cửa đón vốn ngoại
Bài 2: Gỡ điểm nghẽn để doanh nghiệp Việt huy động vốn quốc tế
Bài 3: Chất lượng nền tảng quyết định tính bền vững
Khơi thông điểm nghẽn trần tín nhiệm quốc gia để hút vốn ngoại. Ảnh minh họa: Internet.Trần tín nhiệm và giới hạn tiếp cận dòng vốn dài hạn
Trần tín nhiệm quốc gia (sovereign ceiling) là một khái niệm quan trọng trong hoạt động xếp hạng tín nhiệm quốc tế. Rủi ro của một doanh nghiệp không thể tách rời hoàn toàn khỏi môi trường quốc gia nơi doanh nghiệp hoạt động. Biến động tỷ giá, khả năng chuyển đổi và chuyển tiền ra nước ngoài, chính sách quản lý ngoại hối, mức độ ổn định thể chế hay nguy cơ gián đoạn thanh toán xuyên biên giới đều có thể ảnh hưởng đến khả năng thực hiện nghĩa vụ nợ bằng ngoại tệ.
Bởi vậy, ngay cả khi một doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh tốt, dòng tiền tương đối ổn định và năng lực trả nợ được đánh giá cao, rủi ro quốc gia vẫn có thể giới hạn mức xếp hạng tín nhiệm mà doanh nghiệp đạt được. Đây là một trong những nguyên nhân khiến việc huy động vốn quốc tế của doanh nghiệp Việt Nam không chỉ phụ thuộc vào sức khỏe tài chính riêng mà còn chịu tác động từ đánh giá tín nhiệm của quốc gia.
Tác động của trần tín nhiệm không chỉ thể hiện ở mức lãi suất phải trả. Vấn đề sâu hơn là phạm vi nhà đầu tư có thể tiếp cận. Nhiều quỹ hưu trí, công ty bảo hiểm và quỹ đầu tư tổ chức trên thế giới vận hành theo các quy định phân bổ tài sản, giới hạn rủi ro hoặc điều lệ đầu tư gắn với ngưỡng xếp hạng tín nhiệm. Khi một quốc gia hoặc tổ chức phát hành chưa đạt chuẩn đầu tư theo thang xếp hạng mà các quỹ này sử dụng, khả năng tham gia của họ có thể bị hạn chế.
Điều đó khiến doanh nghiệp phải phụ thuộc nhiều hơn vào nhóm nhà đầu tư chấp nhận rủi ro cao, vốn thường yêu cầu mức sinh lời lớn hơn để bù đắp rủi ro. Khi quy mô phát hành tăng, chênh lệch chi phí vốn này có thể trở thành gánh nặng đáng kể, đặc biệt đối với các doanh nghiệp cần nguồn vốn ngoại tệ dài hạn để đầu tư hạ tầng, năng lượng, sản xuất hoặc mở rộng hoạt động xuyên biên giới.
So sánh với các thị trường đã đạt chuẩn đầu tư cho thấy khác biệt về xếp hạng tín nhiệm có thể tạo ra lợi thế trong huy động vốn. Theo những số liệu được tổng hợp trong các phân tích thị trường gần đây, một số đợt phát hành quốc tế của tổ chức phát hành Indonesia và Philippines có mức định giá thuận lợi hơn so với các thương vụ tương ứng của tổ chức phát hành Việt Nam. Ví dụ, Bank Mandiri của Indonesia huy động thành công 750 triệu USD trái phiếu quốc tế kỳ hạn 5 năm vào cuối tháng 3/2026, với lãi suất coupon 5,25%. Trong khi đó, theo số liệu được S&I Ratings đề cập, lợi suất các đợt phát hành trái phiếu quốc tế gần đây của ngân hàng Việt Nam dao động khoảng 5,5–6%.
Các số liệu trên chưa đủ để xác định toàn bộ chênh lệch chi phí vốn bắt nguồn từ trần tín nhiệm quốc gia, nhưng cho thấy lợi thế tiếp cận thị trường của những tổ chức phát hành thuộc nhóm Investment Grade. Đối với Việt Nam, việc tiến tới mức xếp hạng đầu tư có ý nghĩa không chỉ ở khả năng thu hẹp phần bù rủi ro, mà còn ở cơ hội mở rộng cơ sở nhà đầu tư và tiếp cận nguồn vốn dài hạn với điều kiện thuận lợi hơn.
Cột mốc BBB- của R&I vì thế có ý nghĩa như một tín hiệu tích cực và một cánh cửa mới, nhưng chưa đủ để tự động đưa mọi doanh nghiệp Việt Nam vào nhóm có thể huy động vốn với chi phí tương đương các tổ chức phát hành tại những nền kinh tế đã đạt Investment Grade theo S&P, Fitch và Moody’s.
Cơ hội nâng hạng cần đi cùng thị trường vốn trưởng thành hơnMục tiêu nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia đã được Chính phủ đặt ra với lộ trình đến năm 2030. Quyết định 1919/QĐ-TTg ngày 2/10/2026 sửa đổi, bổ sung Đề án Cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia tới năm 2030, tiếp tục hướng đến mức Baa3 theo Moody’s hoặc BBB- theo S&P và Fitch trở lên.
Mục tiêu này gắn với yêu cầu huy động nguồn lực lớn cho phát triển. Theo ước tính, tổng nhu cầu vốn đầu tư phát triển của Việt Nam đạt khoảng 38,5 triệu tỷ đồng trong giai đoạn 2026-2030. Trong khi ngân sách nhà nước chỉ có khả năng đáp ứng một phần, phần nguồn lực còn lại phải đến từ khu vực tư nhân, hệ thống tài chính và các kênh huy động vốn khác, trong đó có thị trường quốc tế.
Ông Phạm Phú Khôi, Tổng thư ký Hiệp hội Thị trường trái phiếu Việt Nam (VBMA) cho rằng, việc cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia có thể giúp Việt Nam thu hút khoảng 10–20 tỷ USD vốn ngoại vào thị trường trái phiếu. Đây là ước tính về tiềm năng, không phải cam kết về lượng vốn chắc chắn sẽ chảy vào Việt Nam. Khả năng hiện thực hóa còn phụ thuộc vào điều kiện thị trường, chất lượng hàng hóa đầu tư và mức độ sẵn sàng của các tổ chức phát hành.
Nhận định này cho thấy nâng hạng tín nhiệm có thể tạo ra hiệu ứng vượt ra ngoài hoạt động vay nợ của Chính phủ. Khi rủi ro quốc gia được nhìn nhận tích cực hơn, các tổ chức phát hành trong nước có cơ hội mở rộng tệp nhà đầu tư, cải thiện điều kiện định giá và tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn ngoại. Nhưng để dòng vốn đó thực sự đi vào nền kinh tế, thị trường cần có đủ công cụ đầu tư, thông tin đáng tin cậy và cơ chế giao dịch minh bạch.
Một trong những vấn đề cần giải quyết là sự phát triển chưa tương xứng giữa nhu cầu vốn dài hạn và cấu trúc thị trường tài chính. Tín dụng ngân hàng vẫn giữ vai trò lớn trong cung ứng vốn cho doanh nghiệp, trong khi thị trường trái phiếu doanh nghiệp chưa khôi phục đầy đủ vai trò là kênh huy động vốn trung và dài hạn. Nếu nền kinh tế tiếp tục dựa nhiều vào tín dụng ngân hàng để tài trợ cho những dự án có vòng đời dài, áp lực cân đối kỳ hạn, thanh khoản và vốn tự có của hệ thống ngân hàng sẽ gia tăng.
Thị trường cũng cần có các mức lợi suất tham chiếu đủ tin cậy để định giá những khoản vay và trái phiếu doanh nghiệp. Khi thiếu công cụ tham chiếu phù hợp theo đồng tiền và kỳ hạn, việc xác định phần bù rủi ro cho từng tổ chức phát hành trở nên khó khăn hơn, làm tăng chi phí thẩm định và tạo ra khoảng chênh lệch định giá. Đây là vấn đề kỹ thuật của thị trường vốn, không thể giải quyết chỉ bằng một quyết định nâng hạng tín nhiệm.
Nâng hạng không chỉ là câu chuyện của các tổ chức xếp hạngViệc R&I nâng Việt Nam lên BBB- là tín hiệu ghi nhận những chuyển biến tích cực của nền kinh tế, nhưng sự khác biệt giữa R&I và ba tổ chức xếp hạng lớn không nên được hiểu đơn giản là khác nhau về mức độ dễ hay khó trong đánh giá. Mỗi tổ chức có phương pháp luận, trọng số và cách nhìn riêng đối với triển vọng tăng trưởng, sức khỏe tài khóa, hệ thống ngân hàng, cán cân đối ngoại và chất lượng thể chế.
PGS.TS Trần Hoàng Ngân từng chia sẻ, các tổ chức xếp hạng thường xem xét quy mô nền kinh tế, tốc độ tăng trưởng, khả năng chống chịu trước cú sốc, ổn định giá cả, sức mạnh thể chế và tình trạng tài chính quốc gia. Cách tiếp cận này cho thấy tăng trưởng cao là điều kiện hỗ trợ nhưng không thể thay thế các yêu cầu về ổn định và khả năng trả nợ.
Thách thức của Việt Nam là phải duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong khi vẫn bảo đảm kỷ luật tài khóa và an toàn hệ thống tài chính. Quy mô đầu tư lớn có thể tạo động lực tăng trưởng, song cũng cần được đánh giá cùng hiệu quả sử dụng vốn, khả năng tạo nguồn thu và nghĩa vụ trả nợ trong tương lai. Nếu tăng trưởng dựa quá nhiều vào mở rộng đòn bẩy, chất lượng tín nhiệm có thể không được cải thiện tương ứng với quy mô GDP.
Tương tự, cải cách thể chế chỉ tạo tác động bền vững đến xếp hạng tín nhiệm khi chuyển thành kết quả thực thi có thể kiểm chứng. PGS.TS Nguyễn Hữu Huân đề xuất, cần đánh giá cải cách qua khả năng rút ngắn thời gian phê duyệt dự án, giảm chi phí tuân thủ, tăng tính dự báo của chính sách và hạn chế tình trạng thực thi không đồng đều. Với nhà đầu tư quốc tế, tính nhất quán của chính sách và khả năng dự báo môi trường kinh doanh có ý nghĩa không kém những chỉ tiêu tăng trưởng ngắn hạn.
Một yêu cầu khác là nâng cao chất lượng và tính nhất quán của dữ liệu kinh tế, tài khóa và tài chính. Các tổ chức xếp hạng cần được tiếp cận thông tin đầy đủ, kịp thời, có thể đối chiếu giữa các kỳ và phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Minh bạch dữ liệu không chỉ phục vụ quy trình đánh giá của các tổ chức xếp hạng, mà còn giúp nhà đầu tư tự xây dựng mô hình rủi ro, giảm bất định và ra quyết định phân bổ vốn hiệu quả hơn.
Đối với doanh nghiệp, cải thiện tín nhiệm cũng phải trở thành một quá trình dài hạn thay vì chỉ thực hiện khi chuẩn bị phát hành trái phiếu. Chuẩn hóa báo cáo tài chính, công khai nghĩa vụ nợ, nâng cao quản trị thanh khoản, kiểm soát rủi ro tỷ giá và chứng minh khả năng trả nợ bằng dòng tiền thực chất là những điều kiện quan trọng để tạo niềm tin với nhà đầu tư quốc tế.
Tạp chí Nhà đầu tư phát động Cuộc thi viết "Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài". Kính mời Quý độc giả xem toàn văn thể lệ cuộc thi tại đây: Thể lệ cuộc thi.pdf






















