CỔNG THÔNG TIN VÀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ

Ngành Nông nghiệp và Môi trường sẵn sàng liên thông dữ liệu quốc gia

Invest Global 07:58 02/03/2026

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang đẩy mạnh kết nối, đồng bộ dữ liệu lên Trung tâm Dữ liệu quốc gia, từng bước hoàn thiện hệ sinh thái dữ liệu toàn ngành. Từ ...

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang đẩy mạnh kết nối, đồng bộ dữ liệu lên Trung tâm Dữ liệu quốc gia, từng bước hoàn thiện hệ sinh thái dữ liệu toàn ngành. Từ đất đai, nghề cá, lâm nghiệp đến môi trường, nhiều cơ sở dữ liệu quy mô lớn đã được xây dựng, làm sạch và sẵn sàng tích hợp, tạo nền tảng cho quản trị hiện đại, minh bạch và hiệu quả hơn...

Ngày26/2/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã có Công văn số 1753/BNNMT-KHCN gửiBộ Công an về việc kết nối, đồng bộ dữ liệu từ Bộ lên Trung tâm Dữ liệu quốcgia. Đây là bước đi quan trọng nhằm hiện thực hóa Chiến lược dữ liệu ngành, đồngthời tạo nền tảng cho quản trị, điều hành dựa trên dữ liệu trong toàn ngành.

TỪNG BƯỚC LÀM GIÀU HỆ SINH THÁI DỮ LIỆU

TheoKế hoạch được giao, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phụ trách xây dựng, quản lý 25cơ sở dữ liệu, hạ tầng thông tin. Đến nay, 4 hệ thống hạ tầng thông tin đã đượcxây dựng và đưa vào khai thác gồm: Hệ thống thư điện tử công vụ; Hệ thống Vănphòng điện tử và cơ sở dữ liệu văn bản, hồ sơ, tài liệu; Cổng thông tin điện tửcủa Bộ; Hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu lưu trữ điện tử.

Bêncạnh đó, 21 cơ sở dữ liệu đã được xây dựng và đang tiếp tục nâng cấp, hoànthiện theo hướng đáp ứng đầy đủ các tiêu chí “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất,dùng chung”. Định hướng này được cụ thể hóa trong Quyết định số 4731/QĐ-BNNMTngày 11/11/2025 phê duyệt Chiến lược dữ liệu ngành nông nghiệp và môi trườngđến năm 2030, định hướng đến năm 2035.

Công văn của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.Công văn của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Đểtăng cường chỉ đạo, điều phối, ngày 19/1/2026, Bộ đã ban hành Quyết định số200/QĐ-BNNMT thành lập Ban Chỉ đạo về dữ liệu.

Mộttrong những kết quả nổi bật là hoàn thành xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia vềđất đai, gắn với “Chiến dịch 90 ngày làm giàu, làm sạch dữ liệu đất đai”. Tổngsố thửa đất đã rà soát, phân loại đạt 62,2 triệu thửa. Trong đó, hơn 42,5 triệu thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; đã xác thực, đồng bộ thông tin chủ sử dụng với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đủ điều kiện thay thế thành phần hồ sơ khi giải quyết thủ tục hành chính và tích hợp với VNeID. Trong số này, hơn 23,7 triệu thửa có đầy đủ dữ liệu thuộc tính, không gian, bản quét; hơn 18,7 triệu thửa chưa đầy đủ cả ba thành phần.

Hiệncòn hơn 18,6 triệu thửa đất chưa được cấp giấy chứng nhận hoặc cần cập nhật,xác thực với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Vềđồng bộ dữ liệu, tính đến ngày 18/12/2025, 34/34 tỉnh, thành phố với3.289/3.321 xã, phường đã đồng bộ vào cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai tạiTrung ương; tổng số thửa đất đã đồng bộ đạt trên 61,2 triệu thửa. Song song đó,các điều kiện kỹ thuật để kết nối, đồng bộ cơ sở dữ liệu đất đai với Trung tâmDữ liệu quốc gia (C12) cũng đã được triển khai.

DỮLIỆU NGHỀ CÁ, LÂM NGHIỆP: MỞ RỘNG LIÊN THÔNG, TÍCH HỢP

Tronglĩnh vực thủy sản, Bộ đã ban hành 2 thông tư làm cơ sở pháp lý triển khai địnhdanh tàu thuyền trên nền tảng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, định danh vàxác thực điện tử. Hạ tầng phục vụ kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cưđã được chuẩn bị đầy đủ, đảm bảo liên thông dữ liệu đăng ký tàu cá, nhật kýkhai thác, khai báo lưu trú cho thuyền viên và chủ tàu; đồng thời hoàn thànhtích hợp trên ứng dụng VNeID.

Dữliệu của 82.061 tàu cá đã được đối soát phục vụ đồng bộ với cơ sở dữ liệu quốcgia về dân cư nhằm làm sạch thông tin tàu, chủ tàu và thuyền viên.

Trong lĩnh vực lâm nghiệp, hệ thống đang quản lý hơn 8,3 triệu lô rừng trên toàn quốc. Hệ thống thông tin quản lý ngành lâm nghiệp bao gồm nhiều cơ sở dữ liệu thành phần như: cơ sở dữ liệu tài nguyên rừng (228 trường thông tin), cơ sở dữ liệu phát triển rừng (136 trường), cơ sở dữ liệu bảo vệ rừng (89 trường), cơ sở dữ liệu chế biến và thương mại lâm sản (76 trường), cơ sở dữ liệu thực vật và động vật rừng nguy cấp, quý hiếm (69 trường), cơ sở dữ liệu thống kê lâm nghiệp (95 trường). Khối lượng và cấu trúc dữ liệu cho thấy mức độ chi tiết và toàn diện trong quản lý ngành.

Cơsở dữ liệu môi trường quốc gia (giai đoạn I), vận hành từ năm 2022, đã tích hợpcác cơ sở dữ liệu chuyên ngành như đa dạng sinh học, chất thải nguy hại, đánhgiá tác động môi trường, quản lý chất thải rắn, bảo vệ môi trường làng nghề, ônhiễm tồn lưu, nhập khẩu phế liệu, nguồn thải… Bước đầu hình thành nền tảngchia sẻ dữ liệu môi trường trong toàn ngành và với các bộ, ngành liên quan.

Bộđã xây dựng và vận hành các Trung tâm dữ liệu dùng chung, đảm bảo khả năng xửlý song song và dự phòng. Trung tâm dữ liệu chính đặt tại Hà Nội đáp ứng cơ bảncác yêu cầu kỹ thuật; trung tâm tại Cần Thơ đóng vai trò dự phòng, lưu trữ đốivới các cơ sở dữ liệu, hệ thống quan trọng.

CụcChuyển đổi số đã thiết kế, tạo lập mô hình dữ liệu tại Trung tâm dữ liệu của Bộtheo các quy định kỹ thuật, sẵn sàng khai thác, sử dụng và kết nối với Cơ sở dữliệu tổng hợp quốc gia (C12) cũng như các cơ sở dữ liệu của bộ, ngành, địaphương khác.

Từngày 1/1/2026, Bộ đã hoàn thành hợp nhất Hệ thống thông tin giải quyết thủ tụchành chính theo mô hình tập trung, thống nhất từ Trung ương đến địa phương;tích hợp với Cổng Dịch vụ công quốc gia, Cổng thanh toán trực tuyến, cơ sở dữliệu đăng ký doanh nghiệp; đang triển khai tích hợp với cơ sở dữ liệu quốc giavề dân cư (VNeID) và các hệ thống liên quan.

Đếnngày 25/2/2026, hệ thống ghi nhận 52.260 hồ sơ phát sinh, trong đó 50.446 hồ sơtrực tuyến, đạt tỷ lệ 96,53%. Bộ cũng đã rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa 79 thủtục hành chính có thể thay thế thành phần hồ sơ bằng dữ liệu sẵn có.

Trongcông tác chỉ đạo điều hành, Bộ đã xác định 14 chỉ tiêu thông tin, dữ liệu cungcấp phục vụ điều hành của Thủ tướng Chính phủ; ban hành danh mục thông tin, dữliệu phục vụ chỉ đạo điều hành của Bộ, bảo đảm kết nối, cung cấp kịp thời.

Dùđạt nhiều kết quả, quá trình xây dựng và đồng bộ dữ liệu còn không ít khó khăn.Cơ chế, chính sách, định mức kinh tế – kỹ thuật về xây dựng, tạo lập dữ liệucòn thiếu; cơ chế tài chính cho duy trì, cập nhật dữ liệu chưa rõ ràng. Hạ tầngsố còn tồn tại hệ thống rời rạc, công nghệ lạc hậu, phụ thuộc công nghệ đóng.Nguồn nhân lực chuyên trách chuyển đổi số còn thiếu; ngân sách chưa tương xứng.

Đặcthù dữ liệu ngành nông nghiệp và môi trường cũng đặt ra thách thức lớn. Dữ liệuđa dạng, dung lượng lớn, nhiều chiều; được thu thập từ điều tra, ảnh vệ tinh,trạm quan trắc, cảm biến… cần xử lý, chuẩn hóa trước khi cập nhật. Nhiều dữliệu mang tính địa phương, phải kết nối, thu thập từ cơ sở. Không ít dữ liệucập nhật theo thời gian thực như khí hậu, môi trường, cháy rừng, thiên tai,dịch bệnh… đòi hỏi hạ tầng và quy trình xử lý đồng bộ.