CỔNG THÔNG TIN VÀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
Ngày 22/6, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước niêm yết ở mức 25.183 đồng. Sau khi giảm xuống mức 25.038 đồng vào đầu tháng 3/2026, thời điểm xung đột Mỹ - Iran bùng phát, tỷ giá trung tâm đã tăng dần trở lại. Tuy nhiên, so với đầu năm, tỷ giá trung tâm mới tăng 62 đồng, tương đương khoảng 0,25%, cho thấy mức biến động vẫn tương đối hạn chế.
Trong báo cáo cập nhật vĩ mô vừa phát hành, Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cũng nhận thấy, trong tháng 5/2026, tỷ giá giao ngay (spot) dao động trong biên hẹp 26.310 - 26.360 VND/USD, không bứt phá, không có áp lực đe dọa mốc tâm lý 26.550 VND/USD như trong quý I/2026.
Điều này cho thấy thị trường ngoại hối tương đối ổn định, dù nhu cầu ngoại tệ cho nhập khẩu, đặc biệt là nhập khẩu dầu, vẫn là áp lực tiềm ẩn trong thời gian qua. Số liệu mới nhất tính đến hết ngày 15/6/2026, mức nhập siêu của cả nước đạt 16,8 tỷ USD từ đầu năm và ghi nhận 6,5 tháng liên tiếp cán cân thương mại thâm hụt.

Chênh lệch lãi suất thu hẹp, dòng ngoại tệ quay trở lại
Theo TS. Nguyễn Tú Anh, yếu tố rất quan trọng đối với sự ổn định của tỷ giá là lãi suất. Mặt bằng lãi suất trong nước đã tăng lên, khiến chênh lệch lãi suất giữa USD - VND thu hẹp lại. Điều này giúp đảo ngược xu hướng dòng ngoại tệ chảy ra nước ngoài, hỗ trợ dòng vốn quay trở lại thị trường trong nước.
Phân tích nguyên nhân dù mức nhập siêu cao mà tỷ giá vẫn ổn định, chia sẻ gần đây, theo TS. Nguyễn Tú Anh - Giám đốc Dự án Nghiên cứu về Kinh tế Vĩ mô tại Đại học VinUni, cần nhìn vào số liệu cán cân thanh toán.
Bởi tỷ giá phụ thuộc vào cung và cầu ngoại tệ, không chỉ là cán cân vãng lai (chủ yếu là xuất nhập khẩu), mà còn phụ thuộc vào cán cân tài chính, tức là các dòng vốn và dòng tiền từ nước ngoài.
“Chúng ta từng chứng kiến thời kỳ rất dài, từ khi mở cửa cho đến những năm 2012 - 2014, hầu như thâm hụt cán cân vãng lai. Tỷ giá chúng ta khá là ổn bởi có thặng dư rất lớn của cán cân tài chính, tức là dòng vốn đầu tư vào đủ bù đắp” - ông Tú Anh dẫn tính.
Dù chưa có đầy đủ dữ liệu cán cân thanh toán quý II/2026 do độ trễ công bố, TS. Nguyễn Tú Anh cho rằng vẫn có nhiều yếu tố hỗ trợ tỷ giá. Trong đó, vốn FDI giải ngân duy trì bình quân hơn 1,9 tỷ USD/tháng, trong khi kiều hối ước đạt 3,5 - 4 tỷ USD. Tổng quy mô của hai nguồn ngoại tệ này đã gần bù đắp mức nhập siêu hiện nay, góp phần giảm áp lực lên tỷ giá.
Một điểm nữa, phần lớn nhập khẩu hiện nay phục vụ cho các dự án đầu tư, đặc biệt là các dự án FDI. “Điều đó có nghĩa các khoản nhập khẩu này phần nào được tài trợ bởi chính dòng vốn FDI đổ vào. Khoảng 2 tháng nữa, chúng ta sẽ có con số về cán cân thanh toán quý II, nếu chúng ta có thặng dư lớn của cán cân tài chính, hoàn toàn không có vấn đề gì với với tỷ giá” - ông Tú Anh bình luận.

Cùng chung quan điểm, ông Bùi Duy Khoa - Chuyên viên cao cấp VDSC cho rằng, đôi lúc có thể thấy nhập khẩu vẫn tăng nhưng tỷ giá chưa chịu áp lực, hoặc ngược lại xuất siêu lớn, nhưng tỷ giá vẫn tăng là bình thường, bởi áp lực lên tỷ giá chỉ xuất hiện khi dòng ngoại tệ (FX flow) thực sự phát sinh.
"Số liệu xuất nhập khẩu chỉ ghi nhận giá trị hàng hóa tại thời điểm hàng hóa đi qua biên giới và điều đó không đồng nghĩa với việc dòng tiền thanh toán ngoại tệ phát sinh ngay tại thời điểm đó” - chuyên gia VDSC nêu quan điểm.
Đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam (FDI inflow), đây là biến số phản ánh dòng cung - cầu ngoại tệ thực tế (FX flow) tốt hơn so với số liệu xuất nhập khẩu.
Bên cạnh đó, chênh lệch lãi suất USD - VND được duy trì ở vùng cao từ 0 - 3% góp phần quan trọng trong ổn định tỷ giá. Tuy vậy, đây cũng là một trong nguyên nhân khiến mặt bằng lãi suất trong nước khó hạ nhiệt.
“Nếu tình trạng nhập siêu vẫn diễn ra vào nửa cuối năm 2026 thì áp lực lên cung cầu ngoại tệ sẽ rõ ràng hơn” - nhóm phân tích VDSC đánh giá.
Áp lực thanh khoản trông chờ vào 4 nguồn lực hỗ trợTheo đánh giá của VDSC, hệ thống đã bước sang pha chi phí huy động cao hơn do mất cân đối cấu trúc nguồn vốn, vì vậy, khi vấn đề cân đối cấu trúc không được cải thiện, thanh khoản hệ thống chỉ hạ nhiệt kỹ thuật ở từng phiên giao dịch thông qua điều tiết bằng nghiệp vụ thị trường mở (OMO).
Trong bối cảnh thanh khoản hệ thống vẫn chưa giảm căng thẳng, chuyên gia VDSC kỳ vọng bốn yếu tố hỗ trợ thanh khoản thời gian tới.
Mục tiêu ổn định tỷ giá được ưu tiên
“Điều then chốt chi phối thanh khoản hệ thống và mặt bằng lãi suất vẫn là định hướng điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước với ưu tiên ổn định tỷ giá” - chuyên gia VDSC nêu quan điểm.
Một là, lượng tiền mặt lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng có thể dần quay trở lại, trong đó, các điều chỉnh gần đây về chính sách thuế đối với hộ kinh doanh đóng vai trò hỗ trợ.
Quá trình này sẽ diễn ra từ từ, khó tạo ra sự cải thiện đột biến trong ngắn hạn.
Hai là, nguồn thu từ xuất khẩu. Nguồn ngoại tệ thu về từ hoạt động xuất khẩu chưa đủ mạnh để hỗ trợ tăng trưởng tiền gửi của khối doanh nghiệp.
Tuy nhiên, diễn biến này được kỳ vọng sẽ cải thiện dần từ cuối quý III/2026, khi hoạt động xuất khẩu bước vào giai đoạn cao điểm theo yếu tố mùa vụ, qua đó, giúp gia tăng nguồn thu ngoại tệ và từng bước chuyển hóa thành lượng tiền gửi bằng đồng Việt Nam trong hệ thống ngân hàng.
Ba là, dòng vốn FDI. Khi lãi suất tiền gửi VND ở mức 8 - 9%, cao hơn đáng kể so với lãi suất cơ bản của Fed (ở mức 3,5 - 3,75%), doanh nghiệp FDI có thể có thêm động lực cơ cấu lại nguồn vốn, chuyển một phần USD sang VND và gửi tại thị trường trong nước.
Bốn là, giải ngân đầu tư công. Đây là động lực mang tính then chốt nếu có sự cải thiện về tiến độ. Khi dòng vốn giải ngân luân chuyển qua các nhà thầu và doanh nghiệp, rồi quay trở lại hệ thống ngân hàng dưới dạng tiền gửi, thanh khoản toàn hệ thống có thể được cải thiện đáng kể.
Tuy nhiên, tiến độ thực hiện và khả năng hấp thụ vốn vẫn là những ẩn số, đặc biệt trong bối cảnh chi phí vật liệu xây dựng và giá năng lượng duy trì ở mức cao. Bên cạnh đó, yếu tố tỷ giá đóng vai trò quan trọng trong việc lan tỏa nguồn lực này vào hệ thống ngân hàng.
“Các yếu tố hỗ trợ vẫn cần có thời gian để lan tỏa và kiểm định tính hiệu quả thực tế. Do vậy, trong ngắn hạn, các ngân hàng tiếp tục đẩy mạnh phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và gia tăng vay vốn nước ngoài nhằm bù đắp nguồn vốn thiếu hụt trong nước. Tuy nhiên, các nguồn vốn này đều có chi phí khá cao và ảnh hưởng trực tiếp đến mặt bằng lãi suất và xu hướng lãi suất neo cao còn tiếp diễn trong thời gian tới” - chuyên gia VDSC đánh giá./.
























