CỔNG THÔNG TIN VÀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
Cuối tháng 9/2026, tập đoàn Schneider Electric của Pháp công bố hệ thống thiết bị đóng cắt trung thế điều khiển bằng phần mềm, hướng tới rút ngắn thời gian triển khai và mở rộng các trung tâm dữ liệu AI.
Schneider dự kiến tiếp tục các chương trình thí điểm đến năm 2027, trước khi mở rộng cung ứng từ năm 2028.
Động thái của Schneider diễn ra trong bối cảnh các tập đoàn như Siemens, Eaton, ABB hay LS ELECTRIC cũng đang phát triển sản phẩm hoặc mở rộng năng lực sản xuất phục vụ trung tâm dữ liệu AI.
Những diễn biến này phản ánh một xu hướng ít được chú ý hơn so với cuộc đua chip bán dẫn: sự phát triển của AI đang làm thay đổi nhu cầu đối với ngành thiết bị điện, từ máy biến áp, thiết bị đóng cắt đến hệ thống phân phối và quản lý nguồn điện.
Nút thắt sản lượngTheo báo cáo của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), điện năng tiêu thụ của các trung tâm dữ liệu toàn cầu được dự báo tăng từ 485 TWh năm 2025 lên khoảng 950 TWh vào năm 2030, gần gấp đôi sau 5 năm.
Trong đó, điện năng tiêu thụ của nhóm trung tâm dữ liệu tập trung vào AI được dự báo tăng gấp ba lần. IEA cũng ghi nhận riêng trong năm 2025, nhu cầu điện của nhóm này đã tăng khoảng 50%, cao hơn đáng kể mức tăng 17% của toàn bộ ngành trung tâm dữ liệu.
Tuy nhiên, điều đáng chú ý không chỉ nằm ở tổng lượng điện tiêu thụ mà còn ở cách các máy chủ sử dụng điện.
Theo Schneider Electric, các tủ rack trung tâm dữ liệu trước đây thường tiêu thụ khoảng 5–15 kW/ rack. Trong khi đó, những cấu hình sử dụng hệ thống GPU thế hệ mới phục vụ AI có thể đạt 130kW-140 kW trên mỗi rack.
Khi nhiều GPU cùng hoạt động trong một tủ máy chủ, hệ thống không chỉ phải cung cấp lượng điện lớn hơn mà còn phải kiểm soát chất lượng nguồn điện, xử lý sự biến động phụ tải và bảo đảm khả năng dự phòng khi xảy ra sự cố.
Đồng thời, lượng nhiệt sinh ra từ các GPU công suất lớn khiến những phương pháp làm mát bằng không khí truyền thống khó đáp ứng trong một số cấu hình mật độ cao.
Như vậy, AI đang tạo ra hai nhóm nhu cầu đối với ngành thiết bị điện: tăng số lượng thiết bị để phục vụ việc xây dựng trung tâm dữ liệu mới và nâng cấp công nghệ để đáp ứng những kiến trúc máy chủ có mật độ công suất cao hơn.
Xu hướng này thể hiện khá rõ qua hoạt động đầu tư của các tập đoàn quốc tế.
Tháng 4/2026, Eaton công bố đầu tư hơn 30 triệu USD xây dựng cơ sở sản xuất thiết bị đóng cắt trung thế tại Nebraska, Mỹ. Nhà máy dự kiến bắt đầu hoạt động từ năm 2027. Doanh nghiệp xác định làn sóng phát triển trung tâm dữ liệu AI là một trong những động lực thúc đẩy nhu cầu đối với sản phẩm này.
Siemens cũng mở rộng năng lực cung ứng thiết bị điện. Sau khoản đầu tư hơn 165 triệu USD vào các nhà máy tại Mỹ công bố tháng 3/2026, tập đoàn Đức tiếp tục thông báo kế hoạch đầu tư 300 triệu euro tại Đức trong tháng 7, nhằm tăng sản lượng các thiết bị điện phục vụ chuyển dịch năng lượng và trung tâm dữ liệu AI.
Ở hướng công nghệ, ABB phát triển các giải pháp phân phối điện mới dành cho trung tâm dữ liệu, trong khi Schneider theo đuổi kiến trúc thiết bị đóng cắt điều khiển bằng phần mềm. Những hướng phát triển này nhằm đáp ứng yêu cầu về công suất, độ tin cậy và khả năng mở rộng của hệ thống điện.
Ông Alex Cordovil, Giám đốc nghiên cứu tại Dell’Oro Group, lưu ý rằng thời gian giao thiết bị, nguồn nhân lực xây dựng, khả năng kết nối lưới điện và sự đồng thuận của cộng đồng vẫn là những yếu tố hạn chế việc phát triển trung tâm dữ liệu.
Điều này khiến cho vai trò của thiết bị điện trong chuỗi hạ tầng AI trở nên quan trọng hơn khi phải đồng bộ nhiều yếu tố như: Cung cấp giải pháp mới, tăng cường quy mô nhằm đảm bảo tiến độ lắp đặt.
Nhu cầu thiết bị điện tăng cao là cơ hội cho các doanh nghiệp Việt. Ảnh minh họa: CadiviDoanh nghiệp Việt Nam đứng ở đâu trong thị trường mới?
Tại Việt Nam, nhu cầu đầu tư hạ tầng trung tâm dữ liệu cũng đang mở rộng.
Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, đến tháng 8/2026, cả nước có 42 trung tâm dữ liệu thương mại với tổng công suất thiết kế khoảng 372,75 MW, cao hơn hơn 4 lần so với năm 2021. Đây là công suất thiết kế, không phải công suất khai thác thực tế hay lượng điện đang tiêu thụ.
Bên cạnh hạ tầng hiện hữu, nhiều dự án quy mô lớn đang được đầu tư hoặc chuẩn bị triển khai.
Tháng 8/2025, Viettel khởi công Trung tâm Dữ liệu An Khánh tại Hà Nội với tổng vốn công bố 17.500 tỷ đồng. Tại TP.HCM, CMC được chấp thuận làm nhà đầu tư dự án trung tâm dữ liệu siêu quy mô có vốn khoảng 6.260 tỷ đồng vào tháng 9/2026.
Trước đó, tháng 4/2026, TP.HCM trao giấy chứng nhận đầu tư cho hai dự án trung tâm dữ liệu Starmason và Evolution DC VN HCMC, có tổng vốn đăng ký lần lượt hơn 480 triệu USD và hơn 508 triệu USD.
Những con số này phản ánh quy mô vốn dự kiến của các dự án ở những giai đoạn triển khai khác nhau, không đồng nghĩa toàn bộ vốn đã được giải ngân.
Dù vậy, việc mở rộng năng lực hạ tầng dữ liệu kéo theo nhu cầu về hệ thống cấp điện, phân phối điện, làm mát và nguồn dự phòng. Đây là những hạng mục mà doanh nghiệp cơ điện và sản xuất thiết bị điện trong nước có khả năng tham gia.
Công ty CP Cơ Điện Lạnh (HoSE: REE) là một trường hợp đã có những hợp đồng cụ thể từ các dự án.
Theo báo cáo thường niên 2025, đơn vị thành viên là CTCP Dịch vụ Kỹ thuật Cơ điện lạnh R.E.E (REE M&E) đã trúng thầu một số công trình lớn, trong đó có Trung tâm Dữ liệu Viettel Hoàng Hoa Thám.
Đầu năm 2026, REE M&E tiếp tục được lựa chọn thực hiện một gói thầu thuộc dự án Tổng trạm An Khánh của Viettel. Theo đó, REE M&E trúng gói cung cấp vật tư, thiết bị và thi công, lắp đặt hệ thống cơ điện phòng máy giai đoạn 1 với giá 786,414 tỷ đồng, thấp hơn khoảng 25,4% so với giá dự toán 1.053,64 tỷ đồng.
Việc trúng gói thầu này cho thấy REE đã tham gia một công trình hạ tầng dữ liệu có quy mô đáng kể, thay vì mới dừng lại ở việc tìm kiếm cơ hội.
Theo báo cáo của Chứng khoán Vietcap sau ĐHĐCĐ bất thường REE ngày 10/7/2026, giá trị hợp đồng M&E ký mới trong sáu tháng đầu năm đạt khoảng 5.900 tỷ đồng, tương đương 98% kế hoạch ký hợp đồng mới cả năm 2026 ở mức 6.000 tỷ đồng.
Vietcap ước tính giá trị hợp đồng chuyển tiếp chưa thực hiện của mảng này vào cuối tháng 6 đạt khoảng 10.000 tỷ đồng.
Tuy nhiên, giá trị hợp đồng tăng nhanh chưa đồng nghĩa đóng góp lợi nhuận tăng tương ứng.
Tại ĐHĐCĐ bất thường tháng 7, lãnh đạo REE cho biết doanh thu và lợi nhuận mảng M&E trong sáu tháng đầu năm chưa hoàn thành 50% kế hoạch năm. Theo cơ cấu lợi nhuận ước tính được trình bày tại đại hội, mảng điện (bao gồm thủy điện, nhiệt điện là năng lượng tái tạo) đóng góp khoảng 56% lợi nhuận, văn phòng cho thuê khoảng 27%, còn hai mảng nước và cơ điện công trình cộng lại chiếm dưới 10%.
Những tỷ trọng này là số ước tính tại thời điểm đại hội. Dù vậy, chúng cho thấy động lực lợi nhuận của REE vẫn chủ yếu đến từ các mảng kinh doanh truyền thống, trong khi cơ điện công trình chưa giữ vai trò tương xứng với quy mô hợp đồng mới. Điều này còn cho thấy mảng hạ tầng AI mới chỉ là hướng phát triển mới chứ chưa trở thành động lực lợi nhuận đáng kể của REE.
Nếu REE tham gia thị trường thông qua vai trò nhà thầu cơ điện, CTCP Điện lực GELEX (GELEX Electric, HoSE: GEE) lại tiếp cận từ lĩnh vực sản xuất.
GELEX Electric có các thương hiệu trong chuỗi cung ứng thiết bị điện như CADIVI với sản phẩm dây cáp điện, THIBIDI và MEEPOWER sản xuất máy biến áp, EMIC cung cấp thiết bị đo điện.
Đây là những nhóm sản phẩm có liên hệ với hạ tầng truyền tải và phân phối điện, đồng thời cũng là các thành phần được sử dụng trong hệ thống cấp điện cho trung tâm dữ liệu.
Tại ĐHĐCĐ thường niên ngày 8/4/2026, ban lãnh đạo GELEX Electric công bố chiến lược phát triển sản phẩm giai đoạn 2026–2030, trong đó có các giải pháp phục vụ hạ tầng data center, thiết bị đóng cắt bảo vệ, sản phẩm giám sát thông minh và lưới điện thông minh.
Định hướng này phản ánh việc doanh nghiệp đang xem hạ tầng dữ liệu là một trong những thị trường có thể mở rộng hoạt động từ nền tảng sản xuất thiết bị điện truyền thống.
Tuy nhiên, khác với REE, thông tin hiện có về GEE mới xác nhận định hướng phát triển sản phẩm, chưa có dữ liệu công khai đủ rõ về hợp đồng cung ứng thiết bị cho trung tâm dữ liệu AI hay doanh thu thực tế từ nhóm sản phẩm này.
Khoảng cách giữa hai doanh nghiệp phản ánh hai giai đoạn tham gia thị trường khác nhau: REE đã có các gói thầu cơ điện cụ thể, trong khi GEE đang chuẩn bị danh mục sản phẩm để tiếp cận nhu cầu mới.
Theo dự báo công bố tháng 8/2026 của Dell’Oro Group, doanh thu các nhà sản xuất hạ tầng vật lý trung tâm dữ liệu toàn cầu có thể đạt 120 tỷ USD vào năm 2030, tương ứng tốc độ tăng trưởng kép CAGR 22% mỗi năm trong giai đoạn 2025–2030. Điều này mang lại cơ hội lớn cho các nhà sản xuất như GEE.
Tuy nhiên, các công trình này đặt ra yêu cầu cao về độ tin cậy, khả năng dự phòng, tiêu chuẩn kỹ thuật và sự tương thích giữa các hệ thống. Nhà cung cấp trong nước còn phải cạnh tranh với những tập đoàn quốc tế đã có sản phẩm chuyên dụng và kinh nghiệm triển khai trên nhiều thị trường.
Bên cạnh đó, không phải mọi dự án trung tâm dữ liệu được công bố đều sẽ triển khai đúng kế hoạch. Khả năng cấp điện, tiến độ xây dựng, nguồn vốn và nhu cầu thuê công suất đều có thể ảnh hưởng đến thời điểm hình thành đơn hàng.
Làn sóng AI đang mở ra nhu cầu mới đối với ngành thiết bị điện, cả về quy mô cung ứng lẫn yêu cầu công nghệ. Tuy nhiên, từ nhu cầu thị trường đến doanh thu doanh nghiệp còn là quá trình phụ thuộc vào năng lực sản xuất, tiêu chuẩn kỹ thuật, khả năng giành hợp đồng và tiến độ triển khai dự án. Đó mới là những yếu tố quyết định cơ hội từ AI có chuyển thành kết quả kinh doanh hay không.


















