CỔNG THÔNG TIN VÀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
Tổng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 31/5/2026 đạt 24,81 tỷ USD, tăng 34,9% so với cùng kỳ năm trước, theo báo cáo của Cục Thống kê (Bộ Tài chính).
Vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam năm tháng đầu năm giai đoạn 2022-2026 (tỷ USD). Nguồn: Cục Thống kê
So với mức 18,24 tỷ USD của 4 tháng đầu năm, tổng vốn FDI đăng ký tăng thêm khoảng 6,57 tỷ USD trong tháng 5. Trong đó, vốn đăng ký cấp mới đạt 14,84 tỷ USD, gấp 2,1 lần so với cùng kỳ năm trước, tăng thêm khoảng 2,69 tỷ USD so với cuối tháng 4.
Trung Quốc tăng tốc, Singapore giữ ngôi đầu nhưng tỷ trọng thu hẹpXét theo đối tác đầu tư, Singapore vẫn là nhà đầu tư lớn nhất trong các dự án cấp mới, với 6,8 tỷ USD, chiếm 45,9% tổng vốn đăng ký cấp mới. Sau 4 tháng, Singapore cũng đứng đầu với 6,05 tỷ USD, chiếm 49,8%.
Như vậy, trong tháng 5, vốn cấp mới từ Singapore tăng thêm khoảng 750 triệu USD. Tuy nhiên, tỷ trọng của Singapore trong tổng vốn cấp mới giảm từ 49,8% xuống 45,9%, do dòng vốn từ một số đối tác khác tăng nhanh hơn.
Singapore vẫn duy trì khoảng cách lớn so với các nhà đầu tư còn lại, cho thấy vai trò trung tâm vốn của quốc gia này trong chiến lược đầu tư khu vực của nhiều tập đoàn đa quốc gia.
Dữ liệu: Cục Thống kê (không công bố vốn FDI góp vốn, mua cổ phần). Đồ họa: Quang Minh
Hàn Quốc tiếp tục đứng thứ hai về vốn FDI cấp mới vào Việt Nam. Sau 5 tháng, vốn cấp mới từ Hàn Quốc đạt 4,22 tỷ USD, chiếm 28,4% tổng vốn cấp mới. Trước đó, sau 4 tháng, con số này là 4,08 tỷ USD, chiếm 33,6%. Như vậy, vốn cấp mới từ Hàn Quốc chỉ tăng thêm khoảng 140 triệu USD trong tháng 5, cùng với đó là tỷ trọng giảm.
Thay đổi đáng chú ý trong tháng 5 là sự gia tăng mạnh của dòng vốn từ Trung Quốc. Đến hết tháng 5, vốn cấp mới từ Trung Quốc tăng lên 1,79 tỷ USD, chiếm 12,1% tổng vốn cấp mới. Như vậy, chỉ trong tháng 5, vốn cấp mới từ Trung Quốc tăng thêm khoảng 1,27 tỷ USD.
Dù thứ hạng không thay đổi, nhưng tỷ trọng của Trung Quốc trong tổng vốn cấp mới tăng từ 4,3% lên 12,1%, tức gần gấp 3 lần so với cuối tháng 4.
Vốn điều chỉnh vẫn giảmBên cạnh sự thay đổi về dòng vốn cấp mới theo đối tác, vốn đăng ký điều chỉnh vẫn là điểm cần theo dõi trong bức tranh FDI 5 tháng.
Trong 5 tháng đầu năm, có 415 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký tăng vốn, với tổng vốn tăng thêm 5,78 tỷ USD, giảm 32,1% so với cùng kỳ năm trước.
Dù mức giảm đã thu hẹp so với giai đoạn 4 tháng, khi vốn điều chỉnh giảm 51%, diễn biến này cho thấy một bộ phận doanh nghiệp FDI hiện hữu vẫn thận trọng trong kế hoạch mở rộng đầu tư. Các yếu tố như chi phí đầu vào, logistics, năng lượng và biến động thương mại toàn cầu tiếp tục ảnh hưởng đến quyết định tăng vốn của nhà đầu tư.
Nếu tính cả vốn đăng ký mới và vốn đăng ký điều chỉnh, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 14,52 tỷ USD, chiếm 70,4% tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm. Ngành sản xuất, phân phối điện, khí, nước, điều hòa đạt 2,45 tỷ USD, chiếm 11,9%; các ngành còn lại đạt 3,65 tỷ USD, chiếm 17,7%.
Trong khi đó, hoạt động góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục tăng về giá trị. Trong 5 tháng đầu năm, có 1.164 lượt góp vốn, mua cổ phần, với tổng giá trị 4,19 tỷ USD, tăng 46,7% so với cùng kỳ năm trước.
Một số dự án lớn trong 5 tháng đầu năm bao gồm: Dự án cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ với tổng mức đầu tư 4,9 tỷ USD; dự án nhà máy nhiệt điện LNG Huỳnh Lập (Hàn Quốc) trên 2,2 tỷ USD tại tỉnh Nghệ An; dự án Nhà Bè Metrocity GS với tổng vốn đầu tư điều chỉnh tăng 2,2 tỷ USD; dự án Khu phức hợp thông minh tại khu chức năng số 2a trong Khu đô thị mới Thủ Thiêm với tổng vốn đầu tư điều chỉnh tăng khoảng 1,2 tỷ USD; dự án Trung tâm Dữ liệu trí tuệ nhân tạo (AI) tại Khu công nghiệp Tân Phú Trung, tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 2,1 tỷ USD; nhà máy điện tử BYD Việt Nam (Hong Kong) tại tỉnh Phú Thọ tăng vốn 479,8 triệu USD nâng tổng vốn đầu tư lên 890,8 triệu USD.
Điểm sáng đáng chú ý là vốn FDI thực hiện tiếp tục tăng ổn định. Trong 5 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam ước đạt 9,75 tỷ USD, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước.
Đây là mức vốn FDI thực hiện cao nhất của 5 tháng đầu năm trong 5 năm qua. Trước đó, vốn FDI thực hiện cùng kỳ đạt 7,71 tỷ USD năm 2022, 7,65 tỷ USD năm 2023, 8,25 tỷ USD năm 2024 và 8,90 tỷ USD năm 2025.
Trong cơ cấu vốn thực hiện, công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 8,06 tỷ USD, chiếm 82,7% tổng vốn FDI thực hiện. Hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 716,5 triệu USD, chiếm 7,3%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 356,6 triệu USD, chiếm 3,7%.
Việc vốn thực hiện duy trì mức cao cho thấy các dự án FDI tại Việt Nam tiếp tục được triển khai, giải ngân tương đối ổn định. Đây là chỉ báo quan trọng hơn về tác động thực chất của dòng vốn ngoại đối với sản xuất, xuất khẩu, việc làm và tăng trưởng.
Dòng vốn phản ánh xu hướng "China+1"Sự gia tăng của dòng vốn từ Trung Quốc cần được đặt trong bối cảnh rộng hơn của xu hướng "China+1". Theo ông Tim Evans, Tổng Giám đốc HSBC Việt Nam, sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài đối với ASEAN thường được nhìn nhận qua lăng kính China+1: đa dạng hóa sản xuất, giảm rủi ro tập trung và duy trì chi phí cạnh tranh.
Ông Tim Evans, Tổng Giám đốc HSBC Việt Nam. Ảnh: HSBC
Tuy nhiên, HSBC cho rằng cơ hội bền vững hơn không chỉ nằm ở việc dịch chuyển một phần sản xuất khỏi Trung Quốc, mà là xây dựng ASEAN như một hệ thống thống nhất về sản xuất, dịch vụ, vốn, logistics, thanh toán và tiêu chuẩn thương mại số.
Trong cấu trúc đó, Việt Nam có vị thế thuận lợi nhờ năng lực sản xuất, chi phí cạnh tranh, chuỗi cung ứng điện tử - ICT ngày càng sâu rộng và khả năng tiếp cận các thị trường lớn thông qua các hiệp định như CPTPP và RCEP.
Báo cáo của HSBC cũng lưu ý, với Việt Nam, Trung Quốc vừa là nguồn nhập khẩu lớn nhất vừa là thị trường xuất khẩu chiến lược. Việc nâng cấp Khu vực Thương mại Tự do ASEAN - Trung Quốc phiên bản 3.0 có thể tạo thêm khung pháp lý cho các dòng chảy thương mại giá trị cao hơn, nhất là trong kinh tế số, kinh tế xanh và chuỗi cung ứng.
Theo HSBC, Việt Nam không nên chỉ được nhìn nhận như một công xưởng chi phí thấp trong chiến lược China+1. Làn sóng đầu tư tiếp theo tại ASEAN sẽ hướng tới giá trị cao hơn, gồm điện tử, bán dẫn, năng lượng tái tạo và hạ tầng số phục vụ quá trình chuyển đổi AI.
Đây là điểm phù hợp với cơ cấu FDI của Việt Nam trong 5 tháng đầu năm. Nếu tính cả vốn đăng ký mới và vốn điều chỉnh, công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 14,52 tỷ USD, chiếm 70,4% tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm. Riêng vốn cấp mới vào ngành này đạt 9,64 tỷ USD, chiếm 65% tổng vốn đăng ký cấp mới.
HSBC nhận định vị thế của Việt Nam trong chuỗi cung ứng điện tử toàn cầu, trong đó bán dẫn và phần cứng ICT chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu hàng hóa, mở ra cơ hội để Việt Nam bước vào giai đoạn mới về hạ tầng số, trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây và ứng dụng trí tuệ nhân tạo.
Nói cách khác, dòng vốn FDI vào Việt Nam không chỉ phản ánh xu hướng dịch chuyển sản xuất, mà còn đặt ra yêu cầu nâng cấp năng lực hấp thụ vốn, công nghệ và nhân lực để Việt Nam đi lên các phân khúc có giá trị gia tăng cao hơn.
Theo HSBC, để tận dụng tốt hơn cơ hội từ xu hướng China+1 và vai trò mới của ASEAN, Việt Nam cần tăng tốc, phối hợp tốt hơn và thực thi chính sách nhất quán hơn. Những cải cách trong nước về ổn định chính sách, tốc độ xử lý thủ tục, tính minh bạch trong ra quyết định, quản trị và thượng tôn pháp luật sẽ có ý nghĩa quyết định đối với khả năng thu hút dòng vốn chất lượng cao.
Một điểm quan trọng khác là năng lượng. HSBC nhận định Việt Nam là ví dụ cho việc triển khai nhanh năng lượng tái tạo, với sự bùng nổ công suất điện mặt trời và điện gió trong một thập kỷ qua. Tuy nhiên, thách thức hiện nay là ổn định lưới điện và khả năng kết nối xuyên biên giới. Điều này đặc biệt quan trọng khi các nhà đầu tư công nghệ, điện tử, bán dẫn và trung tâm dữ liệu ngày càng yêu cầu nguồn điện ổn định, sạch và cạnh tranh.
Vì vậy, ngoài việc duy trì sức hút về chi phí và vị trí trong chuỗi cung ứng, Việt Nam cần nâng cấp hạ tầng công nghiệp, hạ tầng số, logistics, năng lượng và chất lượng nguồn nhân lực. Đây sẽ là điều kiện để dòng vốn FDI không chỉ tăng về quy mô, mà còn chuyển dịch sang các lĩnh vực có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn.






















