CỔNG THÔNG TIN VÀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
Theo Kiến nghị chính sách Quý III/2026 của Đại học Kinh tế Quốc dân (NEU), khu vực FDI đã góp phần quan trọng giúp Việt Nam xây dựng nền sản xuất công nghiệp, mở rộng xuất khẩu, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, mở thị trường, tạo việc làm và đưa các tiêu chuẩn sản xuất quốc tế vào nền kinh tế.
Tuy nhiên, NEU cho rằng mô hình hội nhập hiện nay vẫn bộc lộ hạn chế khi khu vực FDI có xu hướng tập trung mạnh vào sản xuất hướng xuất khẩu, trong khi phần lớn doanh nghiệp trong nước còn nhỏ, năng lực công nghệ và quản trị hạn chế. Liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp nội địa, chuyển giao tiêu chuẩn, đào tạo và hoạt động nghiên cứu - phát triển chưa tương xứng với mức độ hội nhập. Giá trị gia tăng trong nước và khả năng làm chủ những công đoạn quan trọng của chuỗi giá trị vẫn còn thấp.
Từ thực tế này, NEU nhấn mạnh yêu cầu thay đổi cách tiếp cận FDI. Mục tiêu của giai đoạn tới không chỉ là thu hút thêm dự án hay gia tăng kim ngạch xuất khẩu, mà phải giữ lại nhiều hơn giá trị trong nước, tạo liên kết với doanh nghiệp Việt Nam và từng bước nâng năng lực tham gia vào các khâu có giá trị cao như dịch vụ kỹ thuật, thiết kế, logistics, tài chính, nghiên cứu - phát triển và dữ liệu.
Trong tham luận “Thu hút có chọn lọc đầu tư nước ngoài gắn với chuyển giao công nghệ: Từ mô hình gia công đến làm chủ năng lực sản xuất”, ông Phan Hữu Thắng, Chủ tịch Liên chi hội Tài chính Khu công nghiệp Việt Nam (VIPFA), nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nay là Bộ Tài chính) đã cảnh báo nguy cơ kéo dài mô hình sản xuất theo hướng gia công, lắp ráp nếu không nâng được năng lực hấp thụ và làm chủ công nghệ.
NEU cũng dẫn đánh giá của VCCI cho rằng lực lượng doanh nghiệp quy mô vừa và doanh nghiệp dẫn dắt trong nền kinh tế hiện còn mỏng. Trong khi đó, doanh nghiệp gặp khó về nguồn vốn dài hạn, tín dụng dựa trên dòng tiền, hạ tầng kiểm định, tiêu chuẩn, dữ liệu nhu cầu thị trường và các dịch vụ hỗ trợ. Chính sách phát triển nhà cung cấp cũng còn phân tán.
Cần nhìn nhận dòng vốn đầu tư trong mối quan hệ với lan tỏa và đổi mới sáng tạo. Ảnh: KHCN
Theo GS.TS Nguyễn Trọng Hoài, nguyên Phó hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế TP. HCM (UEH) cần nhìn nhận dòng vốn đầu tư trong mối quan hệ với lan tỏa và đổi mới sáng tạo. Đầu tư chỉ tạo ra phát triển dài hạn khi công nghệ, tri thức được lan tỏa và doanh nghiệp trong nước có khả năng hấp thụ, đổi mới trên nền tảng đó. Tự chủ vì thế không đồng nghĩa với tách khỏi bên ngoài, mà là xác định được những gì cần làm chủ, những gì có thể mua, hấp thụ và những lĩnh vực cần hợp tác quốc tế.
Gắn ưu đãi FDI với giá trị trong nướcMột trong những đề xuất trọng tâm của NEU là “đổi mới thu hút FDI theo chất lượng”. Theo đó, các dự án chiến lược cần có kế hoạch phát triển nhà cung cấp, đào tạo kỹ sư, nghiên cứu - phát triển, liên kết với trường đại học và viện nghiên cứu, đáp ứng tiêu chuẩn môi trường và tạo giá trị gia tăng trong nước. Đặc biệt, các ưu đãi bổ sung chỉ nên được giải ngân sau khi doanh nghiệp đạt những kết quả đã cam kết và được kiểm chứng.
NEU đề xuất chuyển chính sách FDI “từ thu hút vốn sang tạo năng lực”, trong đó lựa chọn dự án phải phù hợp với chiến lược phát triển; ưu đãi gắn với R&D, đào tạo, liên kết nhà cung cấp, chuyển giao tiêu chuẩn và giá trị gia tăng trong nước. Đây cũng là một trong những thông điệp hành động được NEU nhấn mạnh trong nhóm khuyến nghị chính sách.
Cách tiếp cận này cũng đặt FDI vào một cấu trúc phát triển rộng hơn. NEU xác định khu vực nhà nước có vai trò dẫn dắt, định hướng; khu vực tư nhân là động lực chính; còn FDI giữ vai trò hỗ trợ quan trọng. GS. Ngô Thắng Lợi (NEU) ví nền kinh tế như một đoàn tàu, trong đó kinh tế nhà nước là đường ray, khu vực tư nhân là đầu máy, còn FDI là những nhà ga, điểm dừng hỗ trợ quá trình tăng tốc.
Theo mô hình nhiều tầng được NEU đề xuất, doanh nghiệp nhà nước tập trung mở đường về hạ tầng và các lĩnh vực thiết yếu; doanh nghiệp tư nhân tìm kiếm cơ hội, đổi mới và quốc tế hóa; FDI kết nối công nghệ và thị trường; trong khi doanh nghiệp nhỏ, startup và spin-off chuyên môn hóa trong các mắt xích của chuỗi giá trị.
NEU đồng thời đề xuất xây dựng chương trình phát triển nhà cung cấp quốc gia trong các lĩnh vực như điện tử - bán dẫn, cơ khí - ô tô, nông nghiệp - thực phẩm, năng lượng, logistics, công nghệ số và công nghiệp xanh. Mục tiêu là tạo mạng lưới doanh nghiệp trong nước đủ năng lực tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng và tận dụng tốt hơn dòng vốn FDI.
Lộ trình được NEU đề xuất là giai đoạn 2026-2027 tập trung chuẩn hóa nền tảng; giai đoạn 2028-2030 mở rộng các mô hình thí điểm đã được đánh giá, trong đó có phát triển nhà cung cấp, đào tạo kỹ năng và tài trợ R&D theo các mốc kết quả; từ 2031-2045 hướng tới nâng cấp doanh nghiệp, thương hiệu, công nghệ, dịch vụ giá trị cao, tiêu chuẩn xanh và năng lực quốc tế. Các chỉ tiêu cốt lõi cần chuyển dần sang đo giá trị gia tăng trong nước, chất lượng mua hàng nội địa, R&D của doanh nghiệp và khả năng thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Như vậy, theo khuyến nghị của NEU, bài toán FDI trong giai đoạn mới không còn đơn thuần là “hút được bao nhiêu vốn”, mà là dòng vốn đó tạo ra bao nhiêu năng lực cho nền kinh tế, bao nhiêu giá trị được giữ lại trong nước và mức độ doanh nghiệp Việt Nam có thể tham gia sâu đến đâu trong chuỗi giá trị toàn cầu.



















