CỔNG THÔNG TIN VÀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
Cuối tháng 10, đầu tháng 11 là thời điểm miền Trung bước vào cao điểm mùa mưa. Đây cũng là thời điểm các hồ thủy điện thường tranh thủ tích nước, chuẩn bị nguồn dự trữ cho mùa khô năm sau. Thế nhưng, năm nay, diễn biến thủy văn lại không như kỳ vọng.
Tại lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn (TP. Đà Nẵng), những dấu hiệu bất lợi về nguồn nước đã xuất hiện từ giữa năm 2026. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, giai đoạn từ tháng 6 đến giữa tháng 10, diễn biến dòng chảy trên hầu hết các sông, suối thuộc lưu vực này thấp hơn so với trung bình nhiều năm từ 10 - 33%.
Mặc dù trong tháng 9 - 10 xuất hiện một số đợt mưa lũ nhỏ, song mực nước của các hồ chứa lớn đều ở mức khá thấp.
Cụ thể, hồ A Vương có mực nước 355,2 m; Sông Bung 4 là 211,3 m; Đăk Mi 4A là 242 m và Sông Tranh 2 là 151,5 m. Dung tích nước của các hồ chỉ đạt khoảng 15 - 22% so với dung tích thiết kế. Trong khi nhiều hồ thủy lợi có dung tích từ 1 triệu m3 trở lên cũng mới tích được khoảng 40 - 70% dung tích thiết kế.
Đặc biệt, bản tin dự báo mùa cho thấy, tình trạng thiếu hụt lượng mưa có thể xảy ra trên khắp lưu vực. Dòng chảy trong những tháng cuối năm 2026 có xu hướng thấp hơn trung bình nhiều năm khoảng 20 - 40%.
Diễn biến dòng chảy trên hầu hết các sông, suối trên lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn thấp hơn so với trung bình nhiều năm từ 10 - 33%. Ảnh: M.C
Trao đổi với Nhadautu.vn, ông Ngô Xuân Thế, Phó Tổng Giám Đốc CTCP Thủy điện A Vương cho biết, 4 hồ lớn của lưu vực Vu Gia - Thu Bồn chỉ đạt 242,85 triệu m3, trong khi dung tích hữu ích hiện còn trống lên đến 937,06 triệu m3.
Riêng hồ thủy điện A Vương, dung tích hữu ích mới đạt 76,34 triệu m3, còn trống 190,14 triệu m3 so với mực nước dâng bình thường, thấp hơn trung bình nhiều năm.
"Theo dự báo, từ nay đến hết mùa mưa năm 2026 và kéo dài đến tháng 9/2027, lượng mưa sẽ thấp hơn trung bình nhiều năm nên lượng nước có thể bổ sung nhờ mưa thời gian tới trên lưu vực cũng sẽ thấp", ông Thế chia sẻ.
Thực tế, đầu năm 2026, hồ A Vương đã tích được xấp xỉ mực nước dâng bình thường, từ đó các tháng đầu năm cho đến cuối mùa khô, tình hình sản xuất điện diễn ra thuận lợi. Nhưng từ đầu mùa mưa đến nay, lượng mưa chỉ đạt 273 mm, thấp hơn nhiều so với mức 884 mm cùng kỳ.
Ông Thế nhận định, việc hoàn thành kế hoạch sản lượng năm 2026 trong tình hình hiện nay trở thành thách thức lớn. Bởi, doanh nghiệp không chỉ là tính toán cho phát điện năm 2026 mà còn phải đặt mục tiêu tích nước cho năm 2027, thời điểm được dự báo là khó khăn các về nguồn nước và có thể căng thẳng trong cung cấp điện.
Không chỉ tại Đà Nẵng, các doanh nghiệp thủy điện ở Đắk Lắk cũng đang cảm nhận rõ sức ép từ diễn biến thủy văn bất lợi. Báo cáo tại buổi làm việc cuối tháng 10 của đoàn công tác UBND tỉnh Đắk Lắk với các đơn vị quản lý, vận hành thủy điện cho thấy, dưới tác động của El Nino cường độ mạnh, tình hình thủy văn 9 tháng qua diễn biến bất lợi, lưu lượng nước về các hồ chứa sụt giảm rõ rệt.
Đơn cử, Công ty Thủy điện Buôn Kuốp (quản lý 3 nhà máy Buôn Tua Srah, Buôn Kuốp và Srêpốk 3 với tổng công suất 586 MW), ghi nhận sản lượng điện 9 tháng đạt 1.442 triệu kWh, bằng 102% kế hoạch Bộ Công Thương giao nhưng chỉ tương đương 88% mức trung bình nhiều năm. Doanh nghiệp dự kiến cả năm 2026 đạt 2.173 triệu kWh, bằng 98% kế hoạch.
CTCP Thủy điện Buôn Đôn (chủ đầu tư Nhà máy Thủy điện Srêpôk 4A, công suất 64 MW), đạt sản lượng 126,68 triệu kWh trong 9 tháng, tương đương 88,4% kế hoạch. Dự kiến cả năm, sản lượng điện đạt 210 triệu kWh, bằng 91,3% kế hoạch.
Đáng chú ý, Nhà máy Thủy điện Srêpôk 4 do Chi nhánh CTCP Đầu tư và Phát triển điện Đại Hải quản lý, sản lượng điện đạt 169,368 triệu kWh, bằng 58,4% kế hoạch năm và giảm 28,5% so với cùng kỳ. Doanh nghiệp ước tính cả năm chỉ đạt khoảng 259,37 triệu kWh, tương đương 89,4% kế hoạch, hụt khoảng 30,63 triệu kWh.
Hồ thủy điện tại TP. Đà Nẵng rơi vào tình trạng thiếu nước nghiêm trọng. Ảnh: M.C
Không chỉ thủy điện, ngành nông nghiệp và chế biến nông sản cũng đứng trước nguy cơ chịu tác động dây chuyền từ nắng nóng, hạn hán và thiếu nước.
Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng, Tổng Giám đốc CTCP Vinanutrifood Bình Định, Phó Chủ tịch Hội đồng Doanh nghiệp Nông nghiệp Việt Nam đánh giá, El Nino không còn đơn thuần là một hiện tượng thời tiết bất thường mà đang trở thành một trong những thách thức lớn đối với sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp Việt Nam.
Nam Trung Bộ, Tây Nguyên là hai khu vực có nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa lớn, nhưng nhiều vùng vẫn phụ thuộc đáng kể vào điều kiện tự nhiên và nguồn nước tưới.
Do đó, khi nắng nóng kéo dài, lượng mưa suy giảm và nguồn nước thiếu hụt, những ngành hàng như cà phê, hồ tiêu, sầu riêng, cây ăn quả, các loại rau màu sẽ chịu áp lực rất lớn. Đối với những cây trồng lâu năm, ảnh hưởng không chỉ nằm ở sản lượng của một vụ thu hoạch, mà còn tác động đến khả năng sinh trưởng, năng suất của những vụ tiếp theo.
Đáng lo ngại hơn, tình trạng thiếu nước có thể làm mất tính ổn định của các vùng nguyên liệu. Khi cây trồng không được cung cấp đủ nước trong những giai đoạn sinh trưởng quan trọng, làm năng suất suy giảm, tỷ lệ nông sản đạt tiêu chuẩn thương phẩm bị ảnh hưởng. Chất lượng nguyên liệu cũng có thể biến động về kích thước, độ đồng đều, độ ẩm và hàm lượng chất khô.
Đối với doanh nghiệp chế biến sâu, những biến động này tác động trực tiếp đến hiệu suất sản xuất, tỷ lệ thu hồi thành phẩm, khả năng tiêu chuẩn hóa sản phẩm.
"Một nhà máy hiện đại khó có thể vận hành hiệu quả nếu nguồn nguyên liệu liên tục gián đoạn hoặc không đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật. Ngoài ra, khi nông nghiệp đã tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, thị trường không chỉ cần sản phẩm tốt mà còn đòi hỏi nguồn cung ổn định, chất lượng đồng đều, khả năng giao hàng đúng cam kết", bà Hằng nói.
Với Vinanutrifood Bình Định, biến đổi khí hậu, sự bất ổn của nguồn nguyên liệu là những yếu tố phải được tính toán ngay trong chiến lược đầu tư, phát triển nhà máy chế biến nông sản.
Tuy nhiên, khi nguồn cung nông sản suy giảm, giá thu mua nguyên liệu có thể tăng. Áp lực chi phí không chỉ phát sinh ở khâu thu mua mà còn kéo dài trong quá trình vận chuyển, phân loại, bảo quản, chế biến. Nhiệt độ môi trường tăng cao cũng đòi hỏi doanh nghiệp phải duy trì hệ thống bảo quản, kiểm soát nhiệt độ phù hợp, kéo theo chi phí năng lượng.
Trong khi đó, giá bán sản phẩm, đặc biệt tại các thị trường xuất khẩu, không phải lúc nào cũng có thể điều chỉnh tương ứng với mức tăng của giá nguyên liệu. Điều này tạo ra sức ép trực tiếp lên biên lợi nhuận của doanh nghiệp.
Như vậy, với kịch bản thời tiết cực đoan kéo dài, năm 2027 được dự báo sẽ có nhiều thách thức đối với ngành nông nghiệp và chế biến nông sản Việt Nam. Điều này yêu cầu các doanh nghiệp phải tính toán kỹ hơn về nguồn nguyên liệu, cơ cấu sản phẩm, chi phí sản xuất, kế hoạch cung ứng.
Doanh nghiệp tính lại chiến lược sản xuất trước El NinoTheo Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia, trong thời kỳ từ tháng 11/2026 đến tháng 1/2027, trạng thái El Nino tiếp tục duy trì cường độ rất mạnh với xác suất rất cao ở mức 96% và tăng hơn so với dự báo cùng thời kỳ tháng trước là 3%.
Diễn biến nhiệt độ cũng được dự báo ở mức cao hơn trung bình nhiều năm. Trong tháng 11/2026, nhiệt độ trung bình trên cả nước phổ biến cao hơn từ 1 - 2 độ C. Sang tháng 12/2026 và tháng 1/2027, mức nhiệt được dự báo cao hơn trung bình nhiều năm từ 0,5 - 1,5 độ C; riêng khu vực Cao nguyên Trung Bộ và Nam Bộ cao hơn từ 1 - 2 độ C.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đánh giá, nguồn nước mặt từ các sông, suối và hồ chứa ở thượng nguồn, như các hồ: A Vương, Sông Bung 4, Đăk Mi 4A, Sông Tranh 2… là nguồn nước chính trong việc đảm bảo nguồn nước cấp cho sinh hoạt và các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của lưu vực trong suốt 8 tháng mùa cạn.
Với hiện trạng nguồn nước và dự báo xu thế diễn biến nguồn nước trong thời gian tới, lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn tiềm ẩn rủi ro cao về thiếu hụt nguồn nước trong các tháng mùa cạn năm 2027.
Để ứng phó với El Nino, CTCP Thủy điện A Vương đã xây dựng các kịch bản tích nước, phát điện với các tần suất từ 50% (trung bình nhiều năm) đến 75% và 90%, đồng thời, tính đến điều kiện bảo đảm dòng chảy hạ du đến cuối mùa khô năm 2027.
Qua các kịch bản, sản lượng điện sản xuất có thể giảm nhiều so với mức trung bình nhiều năm và cùng kỳ năm 2025. Do đó, mục tiêu của nhà máy trong năm 2027 chủ yếu là vận hành an toàn, tin cậy, sẵn sàng đáp ứng yêu cầu của hệ thống điện, đồng thời phân bổ hợp lý lượng nước dự trữ để đáp ứng nhu cầu hạ du. "Doanh thu và lợi nhuận vì thế khó đạt mức của những năm có điều kiện thủy văn thuận lợi", ông Thế thông tin.
Tại Đắk Lắk, Công ty Thủy điện Buôn Kuốp tiến hành tích nước hồ Buôn Tua Srah, hướng tới mực nước dâng bình thường vào cuối tháng 10 nhằm bảo đảm nguồn nước cho hạ du trong mùa cạn và phục vụ vận hành năm 2027. Nhà máy Thủy điện Srêpôk 4 tăng cường theo dõi thủy văn, phối hợp với các thủy điện thượng lưu và kiểm tra thiết bị để bảo đảm vận hành an toàn, liên tục.
Với Vinanutrifood Bình Định, doanh nghiệp sẽ xây dựng các kịch bản linh hoạt cho năm 2027 theo diễn biến thực tế của nguồn nguyên liệu, thị trường. Khi cần thiết, đơn vị sẽ điều chỉnh cơ cấu sản phẩm, kế hoạch thu mua và tiến độ sản xuất để bảo đảm hiệu quả đầu tư.
"Quan điểm của tôi là không tăng trưởng bằng mọi giá, mà phải tăng trưởng trên nền tảng quản trị rủi ro tốt, kiểm soát chất lượng, hiệu quả kinh tế bền vững", bà Hằng cho biết.
Từ góc độ Phó Chủ tịch Hội đồng Doanh nghiệp Nông nghiệp Việt Nam, bà Hằng cho hay, nhận thức về biến đổi khí hậu của các doanh nghiệp đã có những chuyển biến tích cực.
Nhiều đơn vị bắt đầu quan tâm hơn đến vùng nguyên liệu bền vững, hệ thống tưới tiết kiệm, truy xuất nguồn gốc, công nghệ bảo quản và mô hình kinh tế tuần hoàn. Song, năng lực thích ứng giữa các doanh nghiệp vẫn còn chênh lệch lớn, nhất là giữa những đơn vị có khả năng đầu tư công nghệ với các doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã hoặc hộ sản xuất.
"Không thể đợi đến khi xảy ra hạn hán mới tìm giải pháp chống hạn, cũng không thể đợi đến khi nông sản mất mùa, tăng giá mới bắt đầu tìm kiếm nguồn nguyên liệu thay thế", bà Hằng nhấn mạnh.
Từ thực tế này, bà Hằng cho rằng, ngành nông nghiệp Việt Nam cần tổ chức lại vùng sản xuất theo điều kiện sinh thái, khả năng cung cấp nước; đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ vào canh tác, bảo quản, chế biến; tăng cường liên kết giữa người nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và các cơ quan nghiên cứu.
Bên cạnh nỗ lực của doanh nghiệp, việc đầu tư hạ tầng thủy lợi, cung cấp dữ liệu dự báo khí hậu, hỗ trợ tín dụng đầu tư công nghệ và triển khai các chương trình chuyển đổi sản xuất phù hợp với từng địa phương cũng có ý nghĩa quan trọng.
Về lâu dài, Việt Nam cần chuyển từ tư duy phát triển nông nghiệp dựa chủ yếu vào sản lượng sang tư duy phát triển dựa trên giá trị gia tăng, hiệu quả sử dụng tài nguyên và năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu.
"Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp, doanh nghiệp nào chủ động thích ứng sớm, làm chủ công nghệ và xây dựng được chuỗi cung ứng bền vững thì doanh nghiệp đó sẽ có lợi thế phát triển trong tương lai", bà Hằng chia sẻ thêm.
























